Friday, September 30, 2016

Bài hát chính tôi trích đoạn



Walt Whitman
Hoàng Hưng chuyển tiếng Việt
ảnh (1)
Trường ca “Bài hát chính tôi” (Song of Myself) của Walt Whitman đã được nhà thơ Hoàng Hưng chuyển ngữ và NXB Hội Nhà văn công bố, Công ty Văn hoá Phương Nam phát hành tháng 11/2015 nhân dịp kỷ niệm 20 năm bang giao Việt-Mỹ và đón Tổng thống Mỹ sang thăm Việt Nam. Trong lá thư gửi đến Tổng thống Mỹ Barack Obama kèm với bản sách tặng Tổng thống và phu nhân, dịch giả cho biết: “Tôi tin rằng việc giới thiệu bản hùng ca này tới các độc giả Việt Nam sẽ làm tăng thêm hiểu biết về tính cách của dân tộc Mỹ, một dân tộc yêu tự do, trân quý chủ nghĩa cá nhân cùng với con tim rộng mở cho những người khác, đồng thời nuôi dưỡng tính đa dạng của một xã hội đa sắc tộc. Thật thú vị là tôi tìm thấy những quan niệm của Whitman về luân hồi, cộng thông và biến hoá giữa mọi sinh linh hữu tình, hằng hà sa số thế giới trong “Bài hát chính tôi” thật gần gụi với niềm tin trong Phật giáo truyền thống của người Việt. Tôi hân hạnh gửi tặng ông và phu nhân một bản sách song ngữ “Song of Myself” như biểu hiện lòng biết ơn của tôi đối với những gì ông đã nói và làm để ủng hộ chủ quyền và sự phát triển của Việt Nam, đặc biệt là ủng hộ quyền con người và các nhà hoạt động dân chủ. Tôi thành thật tin rằng ông là hiện thân những tính cách đẹp đẽ của dân tộc Mỹ mà Walt Whitman đã khắc ghi trong “Bài hát chính tôi”. Xin ông vui lòng nhận món quà nhỏ bé này của một công dân Việt Nam bình thường có niềm tin mạnh mẽ vào tương lai lớn lao của mối quan hệ Việt-Mỹ mà ông đã góp phần xây dựng”.
I believe an introduction of this epic to the Vietnamese readership will improve their understanding of the characters of the American people, a freedom-loving people who cherish individualism with their hearts open to the others and nourish diversity in a multi-racial society at the same time. Interestingly, I find Whitman’s concepts of cycles of life, the communion and transformation among sential beings, the myriad of worlds in “Song of Myself” very close to what Vietnamese Buddhists traditionally believe in.
I would like to have the honor to present you a copy of the bilingual “Song of Myself” as a token of my gratitude for what you’ve said and done in support of Vietnam’s sovereignty and development and, in particular, human rights and democracy activists. I truly believe you embody the American people’s beautiful characters as Walt Whitman has inscribed in “Song of Myself.” Please accept this little gift with my strong faith as an ordinary Vietnamese citizen in the great future of the Vietnam-United States relationship that you have substantially contributed to.” (bản tiếng Anh của T.N.C.)
Văn Việt xin trân trọng giới thiệu một số chương thể hiện tinh thần hoà hợp “cái tôi” (tiểu ngã) – “cái ta” (đại ngã) và “không phân biệt” đầy Phật tính trong “Bài hát chính tôi”.
clip_image002
Nhà thơ Hoàng Hưng đọc “Bài hát chính tôi” tại Trung tâm Hoa Kỳ, Sài Gòn
15
Giọng nữ trầm thuần khiết hát trên tầng gác đặt cây đại phong cầm,
Người thợ mộc bào tấm ván, lưỡi bào rít lên xàn xạt,
Những đứa con đã kết hôn hay chưa lập gia đình chạy về nhà cha mẹ ăn lễ Tạ ơn,
Anh hoa tiêu nắm lấy bánh lái tàu, cánh tay khoẻ của anh đè xuống,
Trên thuyền săn cá voi viên thuyền phó gồng mình đứng, giáo nhọn và lao móc sẵn sàng,
Người săn vịt trời xải những bước im lìm cẩn trọng.
Những thầy trợ tế được tấn phong chắp tay đứng ở bệ thờ,
Cô gái kéo sợi tiến tiến lui lui theo tiếng ầm ì của guồng xa lớn,
Người nông dân dừng chân bên hàng rào lúc đang thẩn thơ ngày chủ nhật nhìn cây yến mạch và cây mạch đen,
Kẻ mất trí rốt cuộc bị đưa vào viện tâm thần như một ca xác nhận,
(Anh sẽ không còn ngủ như xưa trên giường cũi trong phòng ngủ mẹ mình);
Người thợ in[1] nhật báo tóc muối tiêu má hốc hác làm việc trong ngăn sắp chữ,
Đảo miếng thuốc lá nhai trong miệng trong khi bản thảo mắt nhoè;
Tứ chi của người dị dạng buộc chặt vào bàn phẫu thuật,
Thật hãi hùng phần bị bỏ đi rơi xuống chiếc xô;
Cô gái phần tư máu da đen bị bán trên sàn đấu giá, gã say gật gù bên lò quán rượu,
Anh thợ máy xắn tay áo lên, viên cảnh sát đi tuần, người gác cổng đánh dấu khách đi qua,
Cậu trai trẻ lái chiếc xe chuyển phát nhanh, (tôi yêu cậu dù không biết cậu);
Anh chàng có nửa máu da đen buộc dây đôi giày nhẹ chuẩn bị chạy đua,
Trò chơi bắn gà tây lôi cuốn cả trẻ lẫn già, người tì mình trên cây súng săn, người ngồi trên đống gỗ,
Nhà thiện xạ bước ra khỏi đám đông, vào vị trí, giương súng lên cao;
Nhóm người nhập cư mới đến ngồi kín bến tàu hay bờ đê biển,
Những mái tóc xoăn xới cỏ trên đồng mía, ngồi trên yên ngựa tay giám sát dõi nhìn,
Kèn gióng giả phòng khiêu vũ, các quý ông chạy tới bạn nhảy quý bà, người khiêu vũ cúi chào nhau duyên dáng,
Chàng trai thức dậy trên căn áp mái lợp gỗ tuyết tùng và nghe tiếng nhạc mưa,
Trên con suối góp nước vào sông Huron dân Michigan đặt bẫy,
Chị da đỏ quấn tấm vải viền vàng chào bán túi kết bằng hạt với giày da đanh,
Khách sành tranh chăm chú nhìn dọc sảnh trưng bày hai mắt nheo nheo đầu nghiêng một phía,
Những người lau rửa mặt boong buộc chặt con thuyền hơi nước, tấm ván gỗ thả xuống cho hành khách lên bờ,
Cô em giơ cuộn len ra trong khi cô chị cuộn len vào và lúc lúc lại dừng vì nút thắt,
Người vợ mới cưới một năm đang bình phục và hạnh phúc vì tuần trước vừa sinh đứa bé đầu lòng,
Cô gái Mỹ tóc vừa gội sạch bong làm việc với chiếc máy khâu hay trong xưởng thợ,
Người thợ lát đường tì trên chiếc đầm hai tay nắm, bút chì phóng viên bay nhanh trên quyển sổ tay, người kẻ biển viết chữ màu xanh lam màu vàng choé,
Chú bé sông đào lon ton trên lối kéo thuyền, người kế toán đếm tiền trên bàn, anh thợ giày truốt sáp cho sợi chỉ,
Nhạc trưởng đánh nhịp cho dàn nhạc, tất cả nhạc công theo lệnh của ông,
Đứa bé được rửa tội ở nhà thờ, lời tuyên nhận đức tin người cải đạo,
Cuộc đua thuyền toả ra trên vịnh, cuộc đua bắt đầu, (những cánh buồm màu trắng lấp lánh làm sao!)
Anh lái bò coi chừng đàn bò, hát cho chúng không đi lạc lối,
Người bán rong mồ hôi nhễ nhại lưng ba lô, (khách mua mặc cả từng xu lẻ);
Cô dâu mới vuốt thẳng chiếc váy cưới trắng, cây kim chỉ phút di chuyển chậm chạp trên mặt đồng hồ,
Kẻ hút thuốc phiện ngả người đầu cứng ngắc và môi hé mở,
Cô gái điếm kéo lê tấm khăn choàng, mũ lủng lẳng trên cần cổ nghiêng nghiêng đầy mụn,
Đám đông cười trước những tiếng chửi thề tục tĩu, lũ đàn ông chế giễu và nháy mắt với nhau,
(Khốn nạn thay! Tôi không cười truớc những tiếng chửi thề của cô và không chế giễu);
Ngài Tổng thống triệu tập hội đồng nội các, vây quanh là các ông bộ trưởng,
Trên lối đi có mái che ba mệnh phụ bước đi khoác tay nhau oai vệ và thân ái,
Thuyền viên tàu cá xếp những thùng cá bơn lớp lớp trong khoang,
Dân Missouri chuyển qua đồng bằng đồ đạc và đàn gia súc,
Nhân viên thu tiền vé đi dọc đoàn tàu gây chú ý bằng tiếng xu lanh canh,
Đám thợ lát nền lát gạch, thợ thiếc lợp mái nhà, thợ nề kêu thêm vữa,
Họ đi hàng một mỗi người khoác trên vai thùng đựng tiến lên phía các phu hồ;
Các mùa đuổi nhau đám người đông không thể tả tụ họp nơi này, đây là ngày 4 tháng Bảy[2], (oai hùng sao những lời chào súng nhỏ súng to!)
Các mùa đuổi nhau thợ cày cày ruộng, thợ gặt gặt lúa đồng, và thóc vụ đông rơi xuống đất;
Ngoài khơi các hồ người câu cá chó quan sát và chờ bên miệng hố giữa mặt nước đóng băng,
Những gốc cây đứng khắp khoảnh đất khai hoang, người mở đất bổ rìu sâu xuống,
Thủy thủ xà lan lúc xế chiều cột thuyền bên cây dương hay rặng hồ đào,
Thợ săn gấu[3] băng qua các đất vùng Sông Đỏ hay các đất vùng sông Tennessee, hay qua các đất vùng sông Arkansas,
Những bó đuốc sáng bừng bầu trời tối trên sông Chattahooche hay địa phận Altamahaw,
Những trưởng lão ngồi ăn bữa tối vây quanh là đám đông con cháu,
Giữa bốn bức tường gạch mộc, trong những túp lều vải bạt, người đi săn và người đánh bẫy nghỉ ngơi sau một ngày thể thao mệt nhọc,
Ngủ thị thành và ngủ đồng quê,
Người sống ngủ lượt người sống, người chết ngủ lượt người chết,
Ông chồng già ngủ bên bà vợ già anh chồng trẻ ngủ bên cô vợ trẻ;
Và họ qui nhập vào tôi, và tôi hướng ra ngoài tới họ,
Họ vốn là như thế, ít nhiều tôi là họ,
Và với mỗi người và tất cả tôi dệt nên bài hát chính mình.
Nhiều khía cạnh của hình thức thơ Whitman gây sốc cho người đọc TK19, trong đó nổi bật là cái mà nhanh chóng được gọi là “các catalog” – bản danh mục liệt kê. Ta đã thấy những catalog ở các đoạn thơ trước, nhưng đến đoạn 15 này thì quả thật khó ngờ nó dài đến vô tận như thế – đoạn thơ có độ dài đứng thứ hai của bài thơ, 75 dòng toàn hình ảnh những con người tham gia đủ loại hoạt động. Một nhà điểm sách ngay từ khi tập thơ Leaves of Grass xuất bản lần đầu tiên đã kêu lên rằng Whitman “nên được đào tạo để làm nghề bán đấu giá” bởi vì ông “mãi mãi bị ám ảnh bởi ảo giác mình phải soạn ra một catalog”. Rồi ai ai cũng nói về kỹ thuật catalog của tác giả, và bản thân Whitman cũng thừa nhận thuật từ ấy; về cuối đời ông nói rằng “một số người chửi rủa những catalog dài thượt của tôi, một số lại cho rằng chúng linh thiêng”.
Ta có hai cách đọc đoạn thơ này: một là đọc nhanh như ngồi trên xe lửa cao tốc, vụt qua những cảnh tượng luôn thay đổi; hai là đọc chậm, chú tâm, dừng lại thưởng thức chất thơ của từng khoảnh khắc như nhà thơ William Carlos Williams gợi ý.
Trong cái catalog về đời sống Mỹ này, Whitman uống vào mọi thứ, chấp nhận sự đa dạng hoang dã của quốc gia, chỉ khước từ có một điều: bản thân sự kỳ thị. Cuộc sống đi vào nhà thơ, và nhà thơ đi ra ngoài mình, nhập vào đời sống hỗn độn xung quanh mình. Đó là đường lối thi ca của ông: “Và với mỗi người và tất cả tôi dệt nên bài hát chính mình”.
16
Tôi là của già và trẻ, của kẻ ngu cũng của người khôn,
Không quan tâm người khác, mà luôn quan tâm người khác,
Là mẹ cũng như là cha, đứa trẻ cũng như người lớn,
Chứa đầy chất thô và chứa đầy chất tinh,
Một công dân của Quốc gia gồm nhiều quốc gia, nhỏ nhất hay lớn nhất thì cũng thế,
Một người miền Nam cũng như miền Bắc, một người trồng trọt dễ dãi và hiếu khách sống bên dòng Oconee[4],
Một gã Yankee[5] theo lối riêng của mình sẵn sàng buôn bán, các khớp xương mềm dẻo nhất và cứng cáp nhất trên đời,
Một người Kentucky đi bộ qua thung lũng Elkhorn chân quấn xà cạp da nai, một người Louisiana hay Georgia,
Một kẻ giong thuyền trên các hồ hay vịnh hay ven biển, một người từ Indiana, Wisconsin, Ohio,
Thoải mái chân mang giày đi tuyết Kanadian hay trên rừng cây bụi, hay cùng các ngư phủ ngoài khơi Newfoundland[6],
Thoải mái giữa đội thuyền phá băng, cùng mọi người giong buồm và buộc chằng dây nhợ,
Thoải mái trên những đồi Vermont hay trong rừng vùng Maine, hay trại bò Texas,
Cùng chí hướng với người dân Cali, cùng chí hướng với người Tây Bắc tự do
(yêu thích những kích cỡ lớn lao của họ),
Cùng chí hướng với người đi bè, thợ mỏ, cùng chí hướng với tất cả những ai bắt tay và mời uống mời ăn,
Trò của người giản dị nhất, thầy của người trí lự,
Tay học việc khởi đầu mà trải nghiệm vô số mùa,
Thuộc về mọi sắc màu và đẳng cấp, thuộc về mọi bậc hàng và tôn giáo,
Một nhà nông, thợ máy, họa sĩ, quý ông, thủy thủ, người theo đạo quaker[7],
Người tù, tình nhân, du côn, luật gia, thầy tu, thầy thuốc.
Tôi kháng cự bất cứ gì vượt qua sự đa dạng của chính tôi,
Hít thở khí trời nhưng để lại sau lưng khí trời đầy ắp,
Và tôi không vênh váo, tôi ở đúng chỗ của mình.
(Con nhậy và những viên trứng cá ở đúng nơi của chúng,
Những vầng dương sáng chói tôi nhìn thấy và những vầng dương tối tôi không nhìn thấy đều ở nơi của chúng,
Cái cảm thấy ở chỗ của mình và cái không cảm thấy ở chỗ của mình).
Bà mẹ của Whitman có lần nói rằng con trai mình luôn luôn có vẻ “đi ra rồi lại đi vào”. Nhận xét ấy không chỉ là về lối sống của ông, mà còn mô tả đúng cấu trúc của bài thơ “Song of Myself”, ở đó nhà thơ mở lòng mình ra đến những chi tiết của đời sống quanh mình, rồi lại thu về một tinh thần “tôi” chắc nịch, tự tin rằng mình có thể chứa đựng muôn vàn thứ mà mình đã hấp thụ, những thứ ấy lại củng cố cái tôi của mình. Đoạn 16 là sự co lại cái mở rộng của đoạn 15. Những gì trước đó có vẻ tình cờ và phân tán giờ đây dệt thành ý thức về cái tôi: “Tôi là của già và trẻ, của kẻ ngu cũng của người khôn”. Cái tôi cá thể cũng đa dạng như quốc gia: mỗi người chúng ta là “một công dân của Quốc gia gồm nhiều quốc gia, nhỏ nhất hay lớn nhất thì cũng thế”. Nên cuối cùng Whitman có thể tuyên bố một câu cấp tiến bậc nhất của ông: “Tôi kháng cự bất cứ gì vượt qua sự đa dạng của chính tôi”. Điều duy nhất ông sẽ chống lại là bất cứ gì hay bất cứ ai dạy ông kỳ thị.
18
Tôi đến với nhạc hùng, cùng cây kèn và cỗ trống của tôi,
Tôi không chỉ chơi hành khúc cho những kẻ thắng được chấp nhận, tôi chơi hành khúc cả cho những người bị chinh phục và bị giết thảm thương.
Bạn đã nghe rằng giành chiến thắng là điều tốt đẹp?
Tôi cũng nói rằng thua cũng tốt, những trận thua với những trận thắng cũng chung một tinh thần.
Tôi đánh trống vì những người chết,
Vì họ tôi thổi vào miệng kèn những âm thanh vang dội và vui nhất của tôi.
Hoan hô những ai chiến bại!
Và những ai chiến thuyền đắm giữa biển khơi!
Và chính những ai chìm thân giữa biển!
Và mọi tướng lĩnh thất trận, và mọi anh hùng bại trận!
Và vô kể những anh hùng vô danh cũng ngang bằng những anh hùng lớn nhất nổi danh!
Đoạn này có tiếng vang lớn hơn trong và sau thời Nội chiến, như thể đã được Whitman viết ra nhằm chữa trị sự chia rẽ, để hòa giải Miền Bắc chiến thắng với Miền Nam bại trận, đem cả hai bên trở lại thành một quốc gia tái thống nhất. Whitman thừa nhận lòng dũng cảm trong chiến trận của cả hai bên; ông tìm kiếm một tầm nhìn bình đẳng bao quát tất cả, thu nhận cả người thua kẻ thắng.
24
Walt Whitman, một vũ trụ, đứa con trai của Manhattan[8],
Ngỗ nghịch, phàm tục, nhục dục, ăn nhậu và sinh con đẻ cái,
Không duy cảm, không đứng trên đàn ông đàn bà hay tách xa khỏi họ,
Không nhún nhường mà khiếm nhã cũng không.
Tháo tung khóa ra khỏi cửa!
Tháo tung cửa ra khỏi rầm!
Ai hạ giá người khác là hạ giá tôi,
Và bất cứ gì đã nói đã làm cuối cùng đều quay về tôi cả.
Qua tôi cảm hứng đâm thúc đâm thúc, qua tôi dòng chảy và cọc tiêu.
Tôi nói câu mật khẩu ban sơ, tôi cho dấu hiệu nền dân chủ,
Thề có Trời, tôi sẽ không chấp nhận bất cứ gì mà mọi người không thể có cái tương đương với mọi mặt tương đồng.
Qua tôi nhiều tiếng nói từ lâu câm lặng,
Tiếng nói của bất tận những thế hệ nô lệ và người tù,
Tiếng nói của những người bệnh và những người tuyệt vọng, của kẻ trộm và người lùn,
Tiếng nói của những chu kỳ sửa soạn và lớn dậy,
Và của những đường dây nối với sao trời, của dạ con và tinh khí người cha,
Và của các quyền của những người bị kẻ khác nhảy lên lưng,
Của kẻ dị dạng, tầm thường, tẻ nhạt, khùng khùng, bị rẻ rúng,
Sương trên trời cao, bọ hung se bãi phân bò.
Qua tôi những tiếng nói bị cấm,
Tiếng nói của giới tính và hoan lạc, những tiếng nói bị che đậy và tôi cất bỏ màn che,
Những tiếng nói sỗ sàng được tôi làm thành sáng trong và đẹp đẽ.
Tôi không đặt ngón tay lên miệng,
Tôi cưng quý lòng mề ngang với đầu óc và trái tim,
Việc giao cấu tôi chẳng thấy hôi hám gì hơn cái chết.
Tôi tin ở xác thịt và những ham mê,
Nhìn, nghe, cảm, là những phép lạ, và mỗi phần và mỗi phân của tôi là một phép lạ.
Tôi thần thánh bên trong và bên ngoài, và tôi thiêng hóa bất cứ gì tôi chạm vào hay được ai chạm đến,
Mùi hương nách này thơm hơn kinh cầu nguyện,
Cái đầu này hơn các nhà thờ, kinh thánh, và mọi tín điều.
Nếu tôi thờ phụng một thứ hơn thứ khác, đó sẽ là thân thể tôi dài rộng hay bất cứ phần nào của thân thể tôi,
Sẽ là ngươi, khuôn hình ta ánh sáng có thể đi qua!
Sẽ là ngươi, những chỗ nhô ra hay giá đỡ rợp bóng của ta!
Sẽ là ngươi, lưỡi bừa nam tính cứng chắc của ta!
Sẽ là ngươi, bất cứ gì đi vào lớp đất trồng của ta!
Ngươi, dòng máu giàu có của ta! dòng sữa của ngươi những dòng phun nhợt nhạt của đời ta!
Sẽ là ngươi, ngực áp vào ngực khác!
Óc ta sẽ là những nếp cuộn thần bí của ngươi!
Sẽ là ngươi, rễ cây thủy xương bồ đẫm nước! chim dẽ giun dưới đầm! tổ chim đầy trứng được canh giữ!
Sẽ là ngươi, cỏ rối tung trên đầu, hàm râu, bắp thịt!
Sẽ là ngươi, giọt nhựa cây phong, thớ cây lúa mì ra dáng đàn ông!
Sẽ là ngươi, mặt trời hào phóng!
Sẽ là ngươi, hơi nước che mờ và chiếu sáng gương mặt ta!
Sẽ là ngươi, những con suối những giọt sương mồ hôi tầm tã!
Sẽ là ngươi, gió có cơ quan sinh dục cù nhẹ vào ta!
Sẽ là ngươi, những cánh đồng vạm vỡ, những cành sồi đang sống, kẻ lang thang đang yêu trên những lối mòn uốn khúc của ta!
Sẽ là ngươi, những bàn tay ta đã nắm, gương mặt ta đã hôn, con người ta đã sờ đã chạm.
Tôi mê mẩn chính mình, có nhiều thứ của tôi và tất cả quá chừng khêu gợi,
Bất cứ lúc nào bất cứ gì xảy ra đều làm tôi run rảy vui,
Tôi không thể nói mắt cá chân mình lõm xuống thế nào, cũng như đâu là nguyên do niềm ước mong nhỏ nhất,
Cũng như nguyên do tình bằng hữu mà tôi ban phát, cũng như nguyên do tình bằng hữu mà tôi nhận về.
Khi trèo lên thềm nhà, tôi dừng bước để xem nó có thật hay không,
Một nhánh bìm bìm trên cửa sổ thoả mãn tôi hơn những siêu hình sách vở.
Hãy ngắm rạng đông!
Ánh sáng le lói làm nhạt dần những bóng mờ tối mênh mông,
Không khí có vị ngon nơi vòm miệng.
Sức đẩy của thế giới chuyển vần nơi những trò nhảy nhót ngây thơ âm thầm lớn dậy, ứa ra tươi mát,
Vụt đi mọi phía theo chiều nghiêng.
Đôi thứ tôi không nhìn thấy được làm dựng lên những chiếc ngạnh dục tình,
Những biển nước dịch sáng ngời trời cao ướt đẫm,
Đất ở với trời, cái thường ngày gần sát chỗ nối nhau,
Thử thách căng phồng từ phía đông lúc này ở phía trên đầu tóc,
Này lời giễu cợt và nhiếc móc, hãy xem mi có làm chủ hay không!
Giờ đây, đến đoạn thơ thứ 24, Whitman tự giới thiệu tên mình. Còn nhớ trong lần xuất bản đầu tiênLeaves of Grass (1855), tên Whitman đã không có ở ngoài bìa hay trang đầu sách. Vậy là cái “Tôi” không tên ấy đã hấp thụ, đã tích tụ rất nhiều qua 23 đoạn trước, nay có thể xác định một căn cước thực, cái “Tôi” có thể được cho một tên riêng. Và cái tên này lập tức được nhấn mạnh những liên hệ địa phương và phổ quát của nó – nó là đứa con của New York và cũng là đứa con của Vũ trụ. Tác giả nhấn mạnh tính vật chất của mình, một thể xác ăn, uống và sinh con đẻ cái. Ông hát lên bản danh mục liệt kê “sự trải rộng của thân thể chính mình”, cơ quan sinh dục của ông với tư cách là bản thân tự nhiên, cả thế giới tự nhiên và toàn vũ trụ dường như là một bộ ẩn dụ của tình dục, ham muốn, và sự thôi thúc sản sinh. Thân xác không đóng khung từ đầu đến chân, mà “trải rộng” từ đất lên trời, từ bản thân đến những người khác. Giờ đây tác giả “cho dấu hiệu nền dân chủ” và ông viện đến vị Thượng đế Dân chủ: “Thề có Trời, tôi sẽ không chấp nhận bất cứ gì mà mọi người không thể có cái tương đương với mọi mặt tương đồng”. Từ đó, ông khẳng định mình là “những tiếng nói bị cấm, tiếng nói của giới tính và hoan lạc, những tiếng nói bị che đậy”. Luân lý của thời Victoria [các quy chuẩn đạo đức khe khắt dưới triều đại Nữ hoàngAnh Victoria (1837–1901) – ND], và Chính thống giáo bị đảo ngược: điều quan trọng là thân xác (hiện thân linh hồn) chứ không phải linh hồn xa lìa thân xác.

[1] The jour printer = the journeyman printer (người thợ in lành nghề)
[2] Ngày Quốc khánh Hoa Kỳ
[3] Nguyên văn: “coon” hay “raccoon”, một loài thuộc họ mèo, thường được dịch là “gấu trúc Mỹ”
[4] Thuộc bang Georgia
[5] Yankee có nhiều nghĩa: là người Hoa Kỳ đối với người các nước khác, là người Bắc nước Mỹ đối với người miền Nam nước Mỹ, Yankee cũng là phương ngữ của vùng New England (Bắc Mỹ)
[6] Hòn đảo phía đông bắc Canada
[7] Quakers (còn gọi là Friends – bằng hữu) là thành viên của một tôn giáo được xếp vào đạo Tin lành, chủ trương sống lành, tự do, hòa ái, tránh các tín điều và cấu trúc ngôi thứ như thường thấy ở các tôn giáo khác. Số đông nhất (gần 100.000/ 400.000) sống ở Hoa Kỳ.
[8] Tên hòn đảo chứa thành phố New York, cũng là tên một trong năm quận của NY, quận trung tâm sầm uất giàu có nhất, cho nên Manhattan cũng có thể coi như đại diện cho NY.

Thursday, September 29, 2016

Văn sĩ Lê Minh Khuê, bà trùm truyện ngắn





NVTPHCM- Được mệnh danh là "Bà trùm" vì sử dụng câu chữ trong tác phẩm của mình hết sức tinh tế, nữ văn sỹ Lê Minh Khuê được rất nhiều đàn em trong giới văn chương nể phục và kính trọng.

Bút danh, biệt danh và danh xưng

Ở chỗ đồng nghiệp với nhau, chúng tôi gọi chị là Madam Khuê, nghe có vẻ rất mệnh phụ và đàn chị, rất “bà trùm”. Còn bút danh Lê Minh Khuê chính là tên khai sinh, không có Thị này Thị nọ đệm vào nên nhiều người tưởng đấy là một ông nhà văn. Quả thực, văn chị nhiều khi kiệm lời, tiết chế, trầm tĩnh như một giọng nam. Những truyện như Một đời, Bi kịch nhỏ, Sương hồng khiến người đọc rưng rưng xúc động mà không đi quá đà đến độ lạm dụng cảm xúc, không lâm ly cải lương.

Đầu thập kỷ 1970 tôi mới hơn mười tuổi, nhà đặt báo Văn Nghệ, tôi đã đọc những truyện ngắn của một tác giả tên là Vũ Thị Miền. Nơi bắt đầu của những bức tranh có cái tranh minh họa của họa sĩ Mai Long, tranh rất mềm mại nữ tính. Truyện ngắn ấy và những truyện khác đều nhẹ nhàng, mơ mộng, cũng nữ tính như bút danh. Mãi sau này tôi mới biết đấy là bút danh của Lê Minh Khuê thời kỳ mới cầm bút viết văn. Và cũng sau này mới biết thời ấy chị có lúc hoang mang vì tin đồn lan ra rằng con bé phóng viên báo Tiền Phong ấy không biết viết văn đâu, mấy kẻ Nhân Văn giấu mặt đã viết những truyện ấy và đội lốt trong cái bút danh quê mùa Vũ Thị Miền hoặc cái tên đàn ông Lê Minh Khuê.

Thời gian đã làm tan tác mọi đồn đại. Đồng nghiệp gọi chị là “cây truyện ngắn”, “trùm truyện ngắn”. Thứ nhất, vì chị hầu như chỉ viết truyện ngắn và truyện vừa. Thứ hai, vì nghệ thuật truyện ngắn là thứ mà Lê Minh Khuê đã “thành tinh”. Năm 1999, ở Liên hoan Nhà văn quốc tế tại Sydney, nhà văn Úc gốc Hy Lạp Christos Tsiolkas nói với tôi: “Tôi chỉ viết tiểu thuyết mà chưa viết được truyện ngắn, vì truyện ngắn đòi hỏi những phẩm chất nghệ thuật cao”. Nghe anh nói vậy, tôi tức khắc nghĩ đến Lê Minh Khuê ở ta. Chị quả là đúng với cái biệt danh bà trùm truyện ngắn - The Queen of Short Story.

Ngợi ca sống chậm

Mãi đến gần đây ở Việt Nam mới dịch cuốn Ngợi ca sống chậm của Carl Honoré. Bản thân Lê Minh Khuê thì đã chủ trương sống chậm từ mấy chục năm trước. Có lẽ là khi đã thôi làm phóng viên chiến trường, đã hết chiến tranh, chị tự thấy không thể hùa theo lối sống vội vã vô lối của người Việt. Hối hả phóng xe trên đường đến mức có thể gây tai nạn, làm như có việc khẩn cấp lắm nhưng đến cơ quan chỉ để dềnh dàng uống nước chè, chuyện gẫu hoặc chơi với cái máy tính. Cũng thế, dềnh dàng đâu đấy để rồi lao như ma đuổi trên đường, đến rạp muộn gây lộn xộn làm phiền người khác, ngồi xuống rồi thì coi việc đến rạp không phải để xem mà để buôn chuyện bằng điện thoại. Tưởng là tranh thủ được nhiều mà hóa ra sống rất ít. Sống là chậm rãi hưởng từng giây phút, nghiền ngẫm từng giây phút. Có vẻ Madam Khuê đã chọn và chỉ hợp với lối sống này. Rất hiện sinh. Một thứ Existentianlism tinh thần hiện sinh, không phải ai cũng biết, biết cũng không dễ mà thực hành. Sống không theo đám đông, không theo thời trang thời thượng, nhưng văn chị thì hiện đại, từ ngôn ngữ, cấu trúc tác phẩm cho đến lối tư duy.

Hội Nhà văn tổ chức đi tham quan nơi này nơi khác, ít khi chị chịu đi. Bạn bè phóng xe máy và tự lái xe hơi vèo vèo, chị cứ đi bộ hoặc đi xe buýt. Đồng nghiệp đã chuyển sang viết bằng máy tính, chị vẫn nhẩn nha viết bằng bút. Người vẫn dùng bút viết tự cho là cái nghĩ được chuyển hóa từ tim từ óc một cách tuần tự, chậm rãi, như là uốn lưỡi đủ bảy lần rồi mới nói. Tỉ mỉ, kỹ càng, chuẩn xác. Thôi thì đấy là thói quen, chứ một khi làm chủ được cái máy tính thì văn cũng đâu thiếu những phẩm chất ấy. Có thể chị sẽ cười giễu nếu biết tôi đã tranh thủ ba tiếng ngồi chờ ở sân bay Bangkok để viết bài này bằng… điện thoại iPhone.
Từ phải sang: Lê Minh Khuê, Hồ Anh Thái và nhà văn Mỹ Wayne Karlin,
ra mắt sách tại Đại học New York (Mỹ), năm 1995.

Còn chuyện ngại xê dịch? Thời tuổi trẻ của Lê Minh Khuê đã quá nhiều sự kiện. 16 tuổi đi thanh niên xung phong, phải chịu nhiều bom đạn trên đường mòn Hồ Chí Minh. Cuộc sống chiến tranh khốc liệt đã được chị tái hiện qua mắt những thiếu nữ còn hồn nhiên mơ mộng trong truyện Những ngôi sao xa xôi. Truyện ngắn này đã được Wendy Martin chọn vào tuyển tập Nghệ thuật truyện ngắn (The Art of the Short Story, Nhà xuất bản Houghton Mifflin) gồm cả những truyện ngắn kinh điển thế giới và của những tác giả đương đại.

Hết chiến tranh, hết luôn thời kỳ thanh niên xung phong và phóng viên chiến trường, Lê Minh Khuê bắt đầu chọn lối sống yên tĩnh, từ trong cái góc nhỏ bình yên mà quan sát một đời sống đua chen nhốn nháo hỗn tạp. Một thời với quá nhiều chuyến đi đã khiến sau này chị trở nên ngại đi. Đã quá đủ. Từ nhà đến cơ quan chỉ đi xe buýt, lên xe còn được các em sinh viên nhường ghế cho ngồi. Vậy là chứng tỏ hai điều. Một, sinh viên mình văn minh. Hai, mình đã đến tuổi để các em nhường ghế. Chị bảo đi xe buýt mới thông cảm với khả năng chịu đựng của người lái xe. Phải là thần kinh thép mới ngày nào cũng luồn lách giữa phố phường hỗn loạn như thế mà không nổi nóng, đưa được bao nhiêu con người đến nơi an toàn.

Làn gió chảy qua là tập truyện mới nhất của Lê Minh Khuê, Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 2016. Họa sĩ Kim Duẩn vẽ bìa đã để cho gió thổi man mác trên những đồ đạc vật dụng của một đời sống tiêu thụ: cái bàn, cái ghế, cái xe máy. Tôi nhìn phác thảo bìa và kêu lên trong thư điện tử: Madam Khuê không biết đi xe máy, nhưng bìa đúng với không khí truyện, cứ để yên cái xe máy trên bìa cho nó bụi. Nhà biên tập Hoàng Anh cũng bảo: Đúng rồi, cái xe máy để đấy rất hợp và ngầu. Cái xe máy cứ đỏ chót ở đấy khác nào trêu ngươi bà tác giả rất dị ứng với văn hóa xe máy. Ba chúng tôi đắc ý như một đám “tiểu nhân” tranh thủ âm mưu chống phá được Madam Khuê.

Ngại cũng chẳng được

Ngại đi, nhưng Madam Khuê từng phải đi xa rất nhiều chuyến cùng tôi. Những liên hoan nhà văn và ra mắt sách ở Thụy Điển năm 1998 và 2003. Chuyến đi ra mắt sách ở gần 20 bang nước Mỹ năm 1995. Lúc ấy có ông nhà văn Mỹ bảo: Nhiều nhà văn Mỹ viết cả đời mà không được Thời báo New York nhắc đến một câu. Nói vậy là bởi khi ấy Thời báo New York, Thời báo Los Angeles, Ký sự San Francisco… có bài đánh giá cao tập truyện mới ra của Lê Minh Khuê, The Stars, the Earth, the River (Những ngôi sao, trái đất, dòng sông). Bây giờ xem lại cái ảnh của New York Times năm 1995, hai chị em và nhà văn Mỹ Wayne Karlin đều còn trẻ, hăm mốt năm rồi còn gì. Sau những chuyến đi như thế, chị bảo, thôi chẳng đi nữa, ngại lắm rồi. Lại còn bảo bắt đầu sợ đi máy bay, bay qua cả đại dương xa xôi như vậy. A, chị đã giống ông Mao, nghe nói sinh thời ông ấy không chịu công du nước ngoài bằng máy bay, chỉ đường bộ và đường thủy mà thôi.

Năm 2008, Lê Minh Khuê được trao giải thưởng văn học quốc tế của Hàn Quốc mang tên văn hào Byeong-ju Lee. Ngày 7.3.2008, Hội đồng giải thưởng từ Hàn Quốc gửi thông báo sang cho tôi. Phản ứng đầu tiên là tôi reo lên: Giờ thì ông Mao phải chấp nhận đi máy bay rồi. Madam Khuê là kiểu người ngại đủ thứ. Ngại phấn đấu, nếu như hiểu phấn đấu là dấn thân nỗ lực ganh đua. Hễ được gợi ý đề cử vào chức vụ này nọ, từ chối ngay. Tự biết là nhận thì sẽ phải vào guồng tranh đấu giành giật. Thôi xin, chỉ mong được bình yên. Ai muốn chơi trèo chơi trội trên cơ thì cứ để họ nghĩ là họ hơn. Bình thản như thế phải là người không tham lam, rất mực tự tin, tự biết giá trị của mình. Ngoài những việc mình coi là trọng thì chẳng có gì là trọng.

Nhìn ra mọi thói tật của người đời, nhìn sắc sảo quyết liệt và viết ra những truyện dữ dội nghiệt ngã như Anh lính Tony D, Cơn mưa cuối mùa, Thân phận cu li, Đồng đô la vĩ đại, Nhiệt đới gió mùa, Ráp Việt… nhưng trong đời thực thì nhường hết nhịn hết. Mấy ông ở cơ quan cái gì cũng nhặt nhạnh, không bỏ sót một quyền lợi nào, nhưng miệng thì phê bình chỉ trích từ thói hư tật xấu của người Việt cho đến cơ chế, Madam nhìn ra hết, nhưng nhìn một cách thấu hiểu cảm thông, không thất vọng vì chưa bao giờ đặt hy vọng. Truyện ngắn Lê Minh Khuê bây giờ cũng thấu hiểu và cảm thông như vậy. Cái dữ dội sắc cạnh đã chìm xuống một tầng sâu. Nhưng người thích văn Lê Minh Khuê thì vẫn nhận ra cả nét cứng cáp mạnh mẽ sắc bén, cả cái dịu dàng trầm tĩnh cảm thông, phải đủ những nét ấy hợp thành, mới ra chất văn Lê Minh Khuê hiện tại.

Sau khi về hưu, Madam Khuê dành thời gian cho việc viết lách và giảng dạy kinh nghiệm viết văn cho những sinh viên chọn nghề viết. Mấy chục năm làm nghề biên tập, chị đã chỉnh sửa cho hàng vạn bản thảo, kinh nghiệm ấy giờ trở nên hữu ích với lớp sinh viên đàn em đàn cháu. Ngay cả đồng nghiệp cũng gửi bản thảo nhờ chị đọc. Họ vẫn muốn có sự thẩm định của Madam Khuê.

___________

Nhà văn Lê Minh Khuê quê gốc ở Thanh Hóa. 16 tuổi gia nhập lực lượng thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước. 20 tuổi bắt đầu làm phóng viên chiến trường. Lê Minh Khuê đã làm việc ở báo Tiền Phong, Đài Truyền hình Việt Nam, Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới (sau này là NXB Hội Nhà Văn). Lê Minh Khuê đã xuất bản 15 tập truyện. Nhiều tập đã được dịch và in ở Mỹ, Pháp, Đức, Thụy Điển… Năm 2008, bà đoạt giải thưởng văn học quốc tế của Hàn Quốc mang tên văn hào Byeong-ju Lee với tập The Stars, the Earth, the River.

Theo ESQUIRE VN

Trăng nguyên sơ kỳ 3



3. hoa mùa độc
Sáng tinh mơ hôm sau, tôi lại đi vòng bờ hồ. Một vòng, rồi hai… Đến vòng thứ ba, con bé hôm qua ở đâu xô ra lẽo đẽo theo sau. Thêm một vòng, nó rướn đến cạnh tôi, chạm nhẹ vào tay tôi, mủm mỉm cười. Làm như không biết, tôi nhìn thẳng, rảo bước. Nó đi như chạy, thỉnh thoảng lại khều khều. Cho đến khi tôi ngừng chân, mắt nhìn phía xe chạy, nhấp nhổm qua đường, nó nói “cháu đi mở đường cho!”. Nhớ hình ảnh bà cụ bị xe đụng hôm qua, tôi rùng mình, không trả lời.
Sang đến hè đường bên kia, con bé chìa tay:
“… cho cháu tiền phở như hôm qua đi, công cháu mở đường cho chú. Nhé, chú nhé!”
Gạt tay con bé, tôi leo lên tam cấp vào khách sạn. Mở vòi nước lạnh, tôi lẩm bẩm một mình, sao mãi chẳng thấy Trang điện thoại. Tắm táp xong, tôi mở máy gọi Thụy. Không nói chuyện được, tôi đành để tin nhắn, ra ngoài tìm quán ăn điểm tâm. Con bé đứng chờ ngay cửa khách sạn, nhưng làm như ngẫu nhiên, thờ ơ: “Cháu chào chú”. Tôi đi thẳng lại cái quán gần Nhà Chung, ngồi vào chiếc bàn kê cạnh cửa kính. Húp đến thìa thứ hai bát bún thang còn bốc khói, con bé đến sát bên, mắt chòng chọc. Thế này thì còn ăn uống gì được hả Trời! Con bé chỉ tay vào mồm, vào bụng, nước giãi ứa ra khoé miệng, ánh mắt khẩn cầu. Chắc nó đói, tôi tự nhủ. Miếng bún nghẹn ở cần cổ, tôi quay đi. Đứng lên, tôi ra cửa quán ăn, vẫy. Khi nó đến cạnh, tôi đút vào tay nó năm nghìn. Con bé lẩm nhẩm:
“… vẫn như hôm qua, còn vật giá thì leo thang!”
Tôi gần phát điên, hỏi “Ai bảo mày vậy?”. Nó thản nhiên “Mẹ cháu chứ còn ai. Rồi đài, báo… chỗ nào cũng nói thế cả!”.
Nắng đầu ngày mỗi lúc một gắt. Tiếng xe gắn máy rầm rầm, kèn bóp inh ỏi. Trong lòng những con đường trung tâm Hà Nội, khói xe bay mù, mùi xăng bốc lên. Tần ngần, tôi chẳng biết đi đâu, lớ ngớ nhìn quanh hệt một kẻ đi lạc đang tìm đường. Con bé đến gần. Tôi hỏi, có chỗ nào vắng xe ở quanh đây không? Nó đáp, ra Văn Miếu, cháu đưa. Tôi lắc đầu, lôi bản đồ thành phố ra. Nửa giờ sau, tôi chẳng nhìn đống văn bia tiến sĩ, tìm một gốc cây tỏa bóng mát, ngồi thật im. Tôi nhắm mắt. Để chiếm hữu lại cái hiện tại tôi không chọn lựa. Để mò mẫm trong một cuộc kiếm tìm kẻ đã ngược dòng thời gian quay về triều Lý.
*
Quay về quá khứ giúp gì việc cần kíp hiện nay là tìm ra cho được vật Bảo quốc Hộ dân! Tôi loay hoay với chiếc Palm, mở ra đọc tiếp:
26-02
Khi tôi tỉnh, Trùm A ngồi bên cạnh. Tôi thều thào hỏi “cái vật quí hiếm đó đâu?”. Hắn giúi vào tay tôi một ống kim loại lạnh ngắt. Nắm chặt lấy nó như níu vào đời này, tôi mỉm cười, sung sướng tự nhủ, thì nó đây, cái vật quí hiếm mà tôi đã sẵn sàng hy sinh cái thân xác tôi trước nguy cơ phân hóa đến độ vô tướng vô hình trong cái lỗ đen không năng lượng – vật chất mà các nhà khoa học đương đại gọi là black hole. Trùm A văng tục, giọng bực bội:
:Nó là cái đèn pin của thằng chết bất đắc kỳ tử hai tháng trước. Thế thì bán cho chó cũng chẳng được! Thế là xong, quả này toi rồi. Nay trả lại anh cái hộ chiếu và những vật tùy thân. Tiền đô tươi thì chúng tôi giữ để thanh lý chi phí…”
Trùm A đứng dậy, nói với lại:
“Sáng ra, có xe đưa anh về Hội An, sau anh tìm xe đi đâu thì đi. Nhớ là cấm khai báo. Đừng quên cánh tay chúng tôi đủ dài để đến đâu với cũng tới, đi là đi, đánh là đánh, giết là giết như thời giải phóng, nghe chưa…”
Vứt cái đèn pin xuống đất, tôi lặng người, đưa tay quệt nước mắt không biết chảy ra từ lúc nào. Ensara thay quần áo, thu xếp đồ nghề, khinh khỉnh không thèm nhìn ai. Tôi ngoảnh về phía gốc cây, nơi có hình bóng một vị sư đưa tay bắt quyết khi tôi thò tay vào cái chum cuối cùng, thấy một vòng khói trắng như sương đang loãng ra, tai nghe, vẫn cái giọng ngọt ngào “… Bữa mô tìm thấy thì về đây với em!”
Xe rời địa phận Mỹ Sơn, chồm khỏi cơn ác mộng và nỗi thất vọng khiến não bộ tôi đóng băng, người mất hết cảm giác, chân tay đơ cứng hầu mất mọi khả năng điều khiển. Đến thị xã Hội An, tôi chỉ còn sức xuống xe, đứng lớ ngớ, hồn vía bay tuốt đến một cõi nào đó vô minh. Tôi mò ra Cửa Đại, thuê căn phòng nhìn ra biển trong một mini-hotel. Mở cửa sổ, tôi im lặng ngắm những con sóng bạc đầu cho đến khi chiều tà. Mặt trời đỏ tía lơ lửng chìm nơi biển lẩn vào trời, ánh sáng quết một vết loang loáng đỏ mầu huyết dụ, lịm dần, chuyển sang mầu đen thẫm. Tiếng đứa bé tôi gặp khi vào đăng ký thuê phòng chí choé. Nó dị dạng, mồm méo, răng chìa ngoài vành môi xưng vều, tay lêu nghêu, chân ngắn chân dài, thổi phì phò qua kẽ răng hở thứ âm điệu ngọng nghịu của những đứa trẻ lên ba học nói. Ông chủ khách sạn, chắc quãng lục tuần, cười cười:
“Cháu nội tui đấy… Đang chờ bồi thường nạn nhân chất độc da cam”. Chỉ một thiếu phụ đang lau bàn, ông tiếp “còn đây là dâu tui, lo công chuyện quản lý… Chú cần chi cứ nói nghen”.
Thiếu phụ ngước lên nhìn, ánh mắt lạnh lẽo, vô cảm.
Ra ngoài bãi biển, tôi tìm một quán ăn vắng người. Quán xập xệ, bàn phủ khăn plát-tích hoen ố, ghế đẩu, ngay cạnh là bếp đốt bằng những bình ga, thực đơn nhàu nát kẹp trong hai mảnh giấy nhựa đùng đục. Bà chủ quán đon đả:
“Chú ở khách sạn mini, phải hông?”
Gục gặc, tôi chỉ mấy thân dừa trốc gốc. Chưa kịp hỏi, bà chủ quán đã nói: “…trận bão tháng trước Tết đó chú. Mấy tháng rồi mà hổng ai tới kéo đi. Chẳng bù với mấy cái khách sạn quốc tế, ba ngày là dọn sạch bưng! Nhà gạch mà… Xóm “nhà lá” tụi tui thì đợi, trên xã nói còn đang “qui hoạch”, chú hà…”. Không thấy tôi nói gì, bà tiếp tục:
“… nếu cái ông chủ khách sạn chú ở còn là Chủ tịch thì chắc qui hoạch lẹ hơn bởi nếu không, ổng mất khách du lịch. Nhưng ổng “về” rồi, bị dân kiện vì lấy đất người ta ra chia cho quan chức mà hoàn trả không công bằng đó chú! Giá đền bù cuả Ủy ban chỉ năm phần trăm giá thị trường, giải thích thì thị trường định hướng này nọ, dân tụi tui nghe hổng hiểu gì ráo, chỉ thấy vậy là người ta trả giá rẻ mạt… Kêu lên Huyện, Huyện biểu kêu lên Thị xã. Rồi Thị xã biểu không giải quyết, kêu lên Tỉnh. Tỉnh lại bảo kêu lên Trung Ương. Rồi Hội đồng Bộ Trưởng, rồi Quốc Hội, rồi ông Thủ Tướng, ông Chủ tịch Nước… Thiệt cực, chưa thấy ai kêu chi mà được, chú à… Phải chi có gì cứu được dân oan, chắc nhiều người xin chết để đánh đổi đó chú!”.
A, cái chi cứu được dân oan! Bà quán ơi, tôi cũng đang đi tìm nó đây. Nó có, hay không có?
Nếu nó có thì thất bại ở Mỹ Sơn vừa qua là chuyện Tái ông mất ngựa. Vì tìm được, thì dưới áp lực của bọn Trùm là phải bán cho Mỹ, bọn còn tham vọng đế quốc. Cứ nhìn chuyện chúng nó nói chống khủng bố bên Irak nhưng thực tâm nhằm kiểm soát dầu lửa để khống chế Âu Châu khắc biết. Nhưng vật quí hiếm bảo quốc hộ dân đó, nó có, hay không có? Trước Tết, Rậm-ria điện thoại từ Đan Mạch, giọng nghiêm trọng: thần nhân mách bảo ta, thế là trao nhiệm vụ cho ba chúng ta, cứ gọi hỏi Tiểu-quỉ bên Anh xem. Tiểu quỉ rành rọt, em cũng thấy một con bướm trắng bay vào nhà, rồi đêm đó, một vị áo nâu sồng lay em, bảo cái vật quí hiếm kia đã “về” đất nước, kẻ nào có cơ duyên sẽ tìm thấy. Thế thì phải về, cơ duyên ngàn năm một thuở. Lên kế hoạch, tôi về ngay vì không công ăn việc làm trói buộc, dặn Rậm-ria và Tiểu-quỉ về sau, càng sớm càng tốt. Nhưng đến hôm nay, chúng vẫn biệt tăm hơi! Mở máy Palm bấm vào mục nhắn tin, vẫn chẳng có gì. Thế là sao? Hỏi bà chủ quán, quanh đây có cái cà-phê internet nào không? Bà chỉ tay vào con đường hun hút không một bóng đèn, đáp: “Chú đi bộ chừng nửa giờ, có … Nhưng tối trời thế này, chú là người lạ, không nên đi”. Cám ơn bà. Đúng thế. Tôi phải bảo vệ thân mình để còn đi tìm cái vật quí hiếm bảo quốc hộ dân chứ.
Giật nẩy người khi đẩy cửa khách sạn bước vào, tôi giụi mắt, tưởng mình quáng gà. Trong tranh sáng tranh tối, thiếu phụ tóc tai rũ rượi nhảy nhổm từ lòng một người đàn ông rồi lẻn vội ra sau. Ông chủ khách sạn bật đèn, vẻ bẽn lẽn, cười cười. Khi đó thằng bé tật nguyền xô ra. Nó giơ một chiếc gậy quơ lên, miệng ngọng nghịu hét toáng lên “ĐM mày, ông nội!”.
*
Hỏi cô tiếp viên khách sạn, tôi mới biết Thụy đến tìm, không gặp và để vài chữ nhắn lại, bảo Trang đã vào Thành Phố Hồ Chí Minh công tác ngắn ngày tuần sau mới về Hà Nội, nhưng sẽ cố liên lạc qua điện thoại. Thốt nhiên, tôi cảm thấy bơ vơ. Và bất lực. Thấy mặt tôi chảy dài, cô tiếp viên thì thào:
“Khi ở đây, ông anh của anh hay ra vườn hoa gần Quốc Hội, lắm khi tối mới về… Anh ra đấy thử xem, lắm khi may là gặp…”
Tôi gật đầu cám ơn. Đúng như mò kim đáy bể. Vô vọng. Tôi thốt nhiên sợ lên phòng khách sạn, chỉ một mình, giữa mười mét vuông lặng lẽ. Ra bờ hồ, tôi tìm tiếng động. Dẫu là tiếng xe, vẫn còn yên ổn hơn một sự im ắng có gì giống như khi đầu óc chập choạng lạc vào cõi u mê. Ngồi dưới bóng cây liễu, tôi nhắm mắt lơ tiếng chào hàng của những đứa bé bán thuốc lá, bật lửa, post card, ảnh khiêu dâm… cho du khách. Ăn mặc thế này, tôi nghĩ, chúng tưởng tôi là người Đại Hàn, Singapore, hay Đài Loan… qua đây mua đàn bà về làm… vợ chăng? Nghe đâu giá vợ – gọi cho chính xác, giá một nô lệ tình dục – khoảng năm nghìn đô cộng chi phí máy bay vu qui, bảo đảm vệ sinh, không aid , bán đứt với toàn bộ giấy tờ kết hôn và xuất cảnh chính thức.
“Chú ơi, chú…”
Con bé khều tay tôi. Mở mắt ra, chưa phản ứng thì tai nghe:
“Em chào anh… Em đến cám ơn anh lại cho cháu tiền ăn quà sáng nay!”
Mùi nước hoa đâm thốc vào mũi khiến tôi ngửng lên. Kề mông ngồi xuống băng đá cạnh bên cạnh tôi, mẹ con bé giả lả:
“Nói thật, thấy anh thương con bé nhà em, em mừng lắm… Cái việc hôm nọ, anh bỏ qua cho em, thực tâm em chỉ muốn phục vụ anh mà thôi. Giọng nửa đùa nửa thực, mẹ con bé vừa cười vừa nói – anh muốn thì em cho con bé nhà em là con nuôi anh! Còn em, em già rồi, anh chẳng cần quan tâm đúng mức. Con bé nhà em sắp mười bẩy tuổi rồi, cái tuổi bẻ sừng trâu đấy…”
Thực không hiểu ý, tôi ngớ ra, nghếch mắt nhìn mẹ con bé, mồm há hốc. Mụ véo vào tay tôi:
“Ấy, em quí bác vì… bác thật thà. Này nhé… con nuôi bác, bác muốn làm gì thì làm. Bắt ngồi, ngồi. Bắt đứng, đứng! ’’
Mụ hinh hích, nháy mắt:
“… rồi bắt nằm, phải nằm, xấp ngửa thế nào cũng được, muốn gì có nấy. Em không phải khuyến mại mà chân thành nói với bác là cháu nó “còn nguyên si”, em phải tìm người xứng đáng cho nó. Thật tình, em bảo cháu, mẹ già sắp về hưu mất rồi, con phải cáng đáng cái cuộc sống chỉ có mẹ với con.” Im tiếng như lấy đà, mụ cao giọng, hất hàm nhìn con bé: “Con phải sửa soạn đi làm, lao động là vinh quang, phải không nào?”
Con bé cười, miệng toác ra, răng hở lợi, gật gật. Nhìn nó, tôi thấy thương. Nó chỉ độ mười bốn mười lăm là cùng, hiểu gì mà lắc với gật! Mẹ con bé đổi giọng, hạ xuống một ốc-ta, thầm thì:
“Tình thật, đời con gái ai rồi cũng qua một lần… Như em, em không may. Lần trước chưa thân, em dối bác, bảo chồng em ở bên Đức. Thật ra, nó ở đây nhưng lang chạ với con mụ Giám Đốc hơn nó hai giáp, bỏ bê mẹ con em gần chục năm nay. Em về quê ở Vĩnh Phú, thầy bu em đuổi, lại phải ôm con lên Hà Nội… Mà em thì chẳng nghề chẳng nghiệp gì, anh bảo sống bằng cái gì đây…”
Thình lình mẹ con bé nghẹn ngào, nước mắt ứa ra hoen vào lớp mascara kẻ mi chảy xuống. Không biết làm gì, tôi lúng túng đứng lên. Mẹ con bé nắm tay tôi lại, mặt căng cứng, nói qua kẽ răng:
“Em hiến nó cho anh, xin anh hai nghìn đô, lấy vốn làm ăn lương thiện chứ chẳng thể kéo dài thế này mãi. Giá này bọn đại gia ở đây có thể trả gấp đôi, nhưng em sợ cho con em, vì lắm khi chúng nó đến ba bốn thằng… khổ cho con bé! Được không anh?”
Tôi giằng tay ra. Tôi vùng chạy, không rõ tại sao. Bất lực? Hay xấu hổ? Hay phản ứng cuối cùng trước khi có thể phạm tội? Cứ thế cắm đầu chạy, tai tôi nghe tiếng huýt còi. Rồi tiếng thét chát chúa:
“Bắt lấy nó!”
Bóng áo xanh rêu túa ra. Một người mặc thường phục chặn đầu tôi. Hắn cong mình vòng tay ôm lấy bụng, xoay thế nào mà tôi ngã bịch xuống đất, tay tức thì bị khóa trái. Tôi kêu “bỏ tôi ra” thì người đó quát “câm miệng”. Công an ùa đến trong một chớp nhoáng. Người mặc thường phục, cũng là công an, giao tôi cho đồng đội. Chà, công an hữu hiệu thật. Lại có võ, chắc võ Tầu, bắt người ta dễ dàng. Tay bị bẻ quặt sau lưng, công an đẩy tôi vào một chiếc xe bít bùng nhanh chóng xịch tới. Về đến trụ sở công an quận Hoàn Kiếm, người trực là một trung úy đeo kính trắng hất hàm hỏi “cướp giật hả?”. Tôi lắc đầu. Trong người tôi không có giấy tờ, hộ chiếu thì khách sạn giữ. Thành khẩn khai báo lý lịch xong, tôi nghe ông ta lạnh lùng: “Tại sao anh lại chạy?”. Chết, nói thế nào bây giờ? Tôi ngập ngừng tìm kế hoãn binh câu giờ:
“Nói ra thì… xấu hổ…”
Viên trung úy nhìn xuống, tay vân vê ria mép, chờ đợi.
“Thưa… tôi bị ỉa chẩy, vội chạy về khách sạn để…”
Đưa tay ngăn tôi nói tiếp, viên trung úy chun mũi. Được thể, tôi xin cho vào toa-lét ngay. Thế là một công an mặt non choẹt dẫn tôi đi qua một cái hành lang, tay kè kè súng (tại sao, tôi không biết), mặt mũi khẩn trương. Trong toa-lét, tôi định thần, và phát hiện tôi chạy ngược chiều lối về khách sạn. A, dấu đầu hở đuôi, làm thế nào lấy vải thưa che mắt thánh đây?
*
28-02
Gõ xong “hai thằng chết tiệt, bay ở đâu, báo cho ta hiện ở Hội An hay ngay”, tôi bấm nút gửi, đứng dậy thanh toán tiền. Vừa từ quán cà phê Internet cạnh chợ bước ra, tôi thoáng thấy thiếu phụ quản lý khách sạn. Người đàn bà đó trên dưới ba mươi, da đen ròn, và nếu bỏ đi cái nhìn lạnh căm của cô ta thì phải nhận nàng mặn mà quyến rũ. Đi xăm xăm về phía tôi, người đàn bà chợt nhận ra, ngượng ngùng cúi chào. Mỉm cười, tôi đáp lễ, quay người tiếp tục đi. Hình ảnh ông bố chồng ôm con dâu tối qua khiến tôi lờm lợm, đầu lại hàng chục con sâu chúi xuống đào khoét mảnh đất đầy cảnh ngược đời này. Đi dăm bước, tôi nghe tiếng gọi giật giọng: “Chú ơi, khoan đi…Chờ chút, chú!”
Quay lại, người đàn bà tất tả chạy theo, mặt hớt hải. Tôi ngừng chân. Người đàn bà nhìn tôi, ánh mắt nay vài vỉ chứ không còn lạnh lẽo, miệng bấp búng: “chú làm phúc cho tui được nói đôi lời!”. Bỏ chiếc giỏ xuống, cô tay chắp tay vái tôi.
“Thôi, chị ơi! Đừng làm vậy, người ta nhìn…”, tôi nói vội, bước qua tránh cái vái giữa chợ. Tay chỉ quán giải khát trước mặt, tôi ngập ngừng “… mời chị vô đây nói chuyện cho tiện!”.
Người đàn bà ngồi xuống, mặt quay vào tường, dáo dác nhìn quanh sợ người đi chợ nhận ra mình. Trôi sạch ánh căm hận, mắt cô ta nay sâu xuống buồn bã như nước sông Hàn xẻ dọc thị trấn. Cô ta dặng hắng, nhỏ nhẻ:
“Tui tên là Chót, Út-chót. Nhà tui năm anh chị em, có chị Út Năm và ba người anh trai. Thời mặt trận Quảng Trị, khi tui mới sanh được ba tháng, ngày là nghĩa quân bên này, đêm là du kích bên kia. Ba tui và anh Hai bị bắn, tội là ác ôn có nợ máu với nhân dân. Kế đó chừng năm sau, anh Tư và chị Út Năm bị bom, chết mất xác. Giải phóng xong, gia đình tui trông cậy vào anh Ba đã tuổi lao động, còn mạ con tui buôn qua bán lại lặt vặt sống qua ngày. Thời chiến tranh với Kampuchia, mạ sợ anh Ba bị bắt đi nghĩa vụ, biểu “con à, mi là thằng con trai nối giõi tông đường, đi đâu được thời đi mà sống!”. Anh Ba vượt biên, đến lần thứ ba thì thoát. Ảnh được Canada nhận cho định cư, ban đầu ở Montreal, sau đi Toronto kiếm việc. Ảnh gửi tiền về giúp, mạ con tui có cái mà ăn, nhưng ở địa phương, bà con nói ra nói vô, công an tới làm khó dễ. Chồng tui, hơn tui một giáp, làm công tác an ninh huyện. Ảnh thuộc gia đình cách mạng, từng nhảy núi, cha ảnh chỉ huy đội du kích Bầu Bính. Thấy tui, ảnh ưng con mắt, tối ngày qua lại gạ gẫm lấy tui về làm vợ. Phần tui, mới mười sáu, tui đâu có biết chi đâu, biểu má tui quyết định thế nào tui làm vậy. Khi báo tin cho anh Ba, ảnh nổi hung, biểu thằng cha sắp thành xui gia đó chính là thằng đã kết tội cha tui và anh Hai, quyết chống lại tới cùng. Ảnh đâu biết mạ con tui cơ cực thế nào, nhà cửa cha ông để lại bị khiếu kiện là cướp đoạt tài sản nhân dân, lời ong tiếng ve tới độ chẳng dám ra đường. Khi biết tui lấy chồng, anh Ba cắt nguồn viện trợ. Từ đó, thư viết ảnh không trả lời. Riết về sau, thư bị trả lại. Ảnh bặt tin, mạ tui và tui hổng biết ảnh ở đâu… Ít lâu sau, mạ tui chết, dặn “… tau đi nhưng mi đã có chỗ yên thân, tau yên lòng. Ráng tìm anh Ba, làm sao cho ảnh hiểu, cứ oán hận mãi thì biết khi nào cho xong. Biểu ảnh, mạ không giận anh đâu, ráng có vợ con là mạ vui lòng rồi…”.
Người đàn bà nghẹn lời, bưng mặt khóc một chập. Lát sau, cô ta tiếp:
“… Lấy chồng được hơn năm tôi sanh cháu. Chú thấy đó, nó dị dạng. Đem lên bệnh viện Tỉnh, bác sĩ chẩn là nó bị chất độc da cam. Chồng tui khóc ròng hai ngày hai đêm, ôm tui kêu “ bây chừ làm sao? Anh thương em mà không làm chi được, em ơi!”. Cha chồng tui rầu rĩ bảo con “mi là đứa trai duy nhất, thế này thì bất hiếu, vô hậu vi đại…”. Tui nói với chồng “sao thì nó là máu mủ của mình, ráng nuôi cho nó lớn lên, nó lấy vợ đẻ con thì có cái chi mà sợ mất giòng mất giống!”. Ảnh nghe, lại khóc, cương quyết không ăn nằm với tui vì sợ. Cha ảnh lên bệnh viện Tỉnh khám nghiệm, hớn hở nói mình không bị chất độc. Ảnh biểu, cha sợ không người nối giõi thì nay đi tìm một bà còn tuổi sanh đẻ đi, mạ chết từ lâu rồi mà. Cha ảnh trừng mắt: “mi nói dễ vậy, tau còn lãnh đạo nhân dân thì phải giữ đạo đức cách mạng, đâu có thế được! Chỉ tui đứng xớ rớ, cha ảnh biểu – sẵn đây, tau cho mi thằng em, gột được cái tiếng nhà mình vô phúc, mi bị nhiễm độc da cam. Sau, mi làm cha nó, giấy tờ khai sanh đàng hoàng…”. Ảnh điếng người, lắc đầu. Từ đó ảnh canh tui như canh mồ canh mả, lắm bữa bỏ không đi làm trên huyện. Nhưng đâu cứ mãi thế được. Ảnh tính mua một căn hộ đưa tui đi, chưa kịp thì cha ảnh thừa cơ ảnh vắng nhà hãm tui. Thấy thân tui bầm dập thâm tím, anh hiểu ra, vào bếp tìm con dao phay chạy lên. Tui ôm chân ảnh tui khóc, án mạng thế này thì chết hết. Cha ảnh bung cửa chạy lên cơ quan, tối không dám về. Đêm đó, ảnh ra ngoài, chẳng biết đi đâu. Sáng ra, công an xã tới báo ảnh treo cổ ở miếu Thành hoàng đầu thôn…”
Người đàn bà gục mặt xuống thổn thức, khi ngửng lên, lại nhìn với ánh mắt căm hận cố hữu:
“Sau đó, cha ảnh cứ thế, dọa nếu tôi không chịu mà đi tố cáo thì ổng sẽ giết đứa con tật nguyền của tui… Thằng nhỏ nó biết, đêm đêm nó quặp chặt lấy tui. Ổng mò vô, là nó chửi ĐM mày, ông nội. Ổng đánh, nhưng nó không ngán. Khi ổng bị mất chức vì cướp đất thì ổng xây cái khách sạn mini, bề ngoài là cha chồng, nhưng… chú thấy đó, ổng làm tới như tối qua. Bây giờ, chú à… Xem hộ chiếu đăng ký ở khách sạn thì chú là Việt Kiều Canada. Tui nhờ chú giúp tui tìm anh Ba, giấy tờ tên… sanh năm… tại Quảng Trị, năm… còn ở Toronto. Liên lạc được ảnh, may ảnh thương mà cứu mẹ con tui khỏi cái cảnh khốn nạn này. Được không chú?”
Nhìn ánh mắt người đàn bà khẩn cầu, tôi gật đầu, nhưng biết là khó, vô cùng khó. Còn nước còn tát, biết thế nào hơn được. Để vá lại từng mảnh đời rách nát. Để cuộc đời này bớt đi tiếng khóc.
Trời ơi, giá mà tôi tìm được cái vật quí hiếm bảo quốc hộ dân kia nhỉ!
*
Số tôi may. Vị trung úy công an không để ý đến cái chi tiết chạy ngược hướng về khách sạn, nhưng kiểm tra đăng ký của khách sạn, xem xét hộ chiếu, và khi biết không có ai bị cướp giựt trưa hôm đó trên bờ hồ thì cho tôi về. Tất cả, mất ba giờ. Ra khỏi trụ sở công an, trời đã nhá nhem. Trút được một gánh nặng, tôi hớn hở như kẻ nhặt được tiền rơi, cười một mình khi tưởng tượng cảnh kể lại cho đám người quen rủ rê tôi tranh đấu cho dân chủ ở hải ngoại cái cuộc ở tù (chỉ ba giờ, nhưng tạm cứ lửng lơ) như một thành tích. Họ hẳn ao ước chứng cớ (được) tù tội hẳn hoi để có khả năng vươn lên lãnh đạo phong trào.
Về đến khách sạn, tôi điện ngay cho Thụy. Hắn hỏi: “Nghe nói công an đưa anh về trụ sở, có việc gì vậy?”. Dĩ nhiên, tôi kể hết, nhưng không nói chuyện bà mẹ định bán trinh con bé kiếm vốn làm ăn, và lặp lại lý do ỉa chẩy, với những chi tiết rất thuyết phục. Thụy dặn tôi ở đây ăn uống phải cẩn thận, gà thì gà cúm, heo thì heo tai xanh… Thụy bảo đã liên lạc được với Trang, và nàng dặn Thụy đi tìm một người bạn tên Ban Mai, là người cũng đã từng gặp hắn, thằng anh trời đánh của tôi. Chính Thụy mới gặp Ban Mai, chỉ biết cô ta công tác trong ty văn hóa tỉnh Hòa Bình, nhưng hứa sẽ tìm giúp số điện thoại.
Tôi ra ngoài ăn tối. Cô tiếp viên khách sạn chặn tôi ở cửa, thì thầm: “Lúc công an đến làm việc, em cứ sợ là anh bị bắt ở vườn hoa…”
Lắc đầu, tôi không nói gì thêm. Cô tiếp viên đoán “thế chắc anh bị đứa nào nó móc túi hay cướp giựt, phải không?”. Tôi lại lắc. Tai vách mạch dừng, ngay với cô tiếp viên này cũng nên khai báo thành khẩn. Thế là tôi kể lại, ngắn gọn thôi, cái lý do tôi đã trình bầy cho công an, và kết luận:
‘’Công an ta thật hữu hiệu, lại đối đãi rất lịch sự, không đánh đập nạt nộ gì, xử lý đúng nếp sống văn minh, theo hiến pháp và pháp luật”.
Không hiểu sao, cô tiếp viên cười bẽn lẽn. Còn tôi, tôi chợt giật mình. Bây giờ tôi cũng nói dối được. Và vô tư, cứ như thật.
Tôi đi ăn phở. Nhớ lời Thụy, tôi chọn phở 44, một quán phở nhìn ra hồ, có máy lạnh và bàn ghế hẳn hoi, giành cho những người có tiền như bọn du khách ngoại quốc và đám Việt Kiều. Phở thì chắc là bò, mà bò nước ta thông minh cần cù, chẳng phải như bò điên lở mồm long móng bị cấm ở Âu Châu đâu. Vừa húp nước phở, tôi vừa tự hỏi, lý do gì mà cô tiếp viên khách sạn cứ nhắc đến một cái vườn hoa, rõ là có ý dò hỏi xem tôi có gì dính líu đến đấy không. Thằng bé chơi trò điệp viên trong tôi thức giấc. Cộng hưởng với nỗi đớn hèn khiến tôi nói dối như thật, thằng bé đó đâm ra liều lĩnh, sống lại giấc mơ điệp viên thuở thiếu thời. Nó điều tra. Rất dễ, vì ai cũng biết. Đó là vườn hoa Mai Xuân Thưởng.
Trưa hôm sau, len lỏi giữa những tàn lá trụi nắng, tôi lần đến góc cái vườn hoa đó. Bạt trăng chắn gió che cho đám người kẻ ngồi kẻ nằm. Một bà cụ móm mém ngước lên nhìn, miệng mấp máy: “Ông hỏi ai?”. Tôi đáp “Thưa cụ cháu tìm anh cháu”, mô tả hình dạng hắn, nhưng chẳng một ai nói gì. Bà cụ lại gặng: “Cậu ấy từ đâu đến? Ở đây thì Bắc có, Nam có, Trung có. Tôi từ Thái Bình. Còn bà này – tay chỉ một phụ nữ xồn xồn, cụ thều thào – đến từ Kiên Giang. Ông cụ đây thì Đồng Tháp, ông kia từ Hà Tĩnh… Toàn người có tuổi cả. Trẻ thì trước có một cậu đến viết đơn khiếu nại cho dân oan, nhưng nay bị bắt rồi. Hiện còn một cô người Thái Bình, lại là một nhà ngoại cảm nên người ta còn e… Cô ấy bảo nhờ ơn trên, biết sớm muộn chúng tôi sẽ được cứu rỗi, oan khiên gì cũng giải được!”. Tôi thầm nhủ, với cái khả năng siêu nhiên ấy, cô ta có thể giúp tôi tìm ra cái thằng anh trời đánh kia không? Hỏi cô ấy ở đâu thì bà cụ bảo cứ đến khi mặt trời lặn cô ta mới ra đây, đầu đội khăn vàng, nhìn không lẫn được. Tôi đi quanh nhìn những tấm bảng cái bằng vải, cái bằng bìa các-tông, to nhỏ khác nhau, in bằng mực đen, viết bằng mực đỏ. Dựa vào những gốc cây như nghỉ mệt, bảng nào cũng oán thán:
- Tỉnh Quảng Ninh chủ tịch huyện Yên Hưng thu đất phạm hành lang an toàn của dân cấp cho tỉnh xây nhà, trích trái luật 20% tiền đền bù bất hợp pháp của dân
- Dân oan quận 9 TP Hồ Chí Minh đất không qui hoạch công nghệ ca o- lợi dụng chức vụ quyền hạn – cưỡng chế đập nhà – ba mẹ con tôi hiện nay bơ vơ không nơi nương tựa. Hãy cứu những đứa trẻ thơ vô tội. Phạm ngọc Sương…
Vừa hỏi một cụ ông đứng cạnh, “Thưa cụ, kiện ai thì nêu danh tính rõ rệt mới được chứ, nói chung chung là họ sẽ đổ quanh cho nhau, bao giờ giải quyết được!”, cụ lôi tôi xồng xộc đến trước tấm bảng, miệng la: “Tên tuổi đầy đủ nè!”
“Ủa, có phải Bùi Tiến Dũng là “con bạc triệu đô la” vụ PMU 18 không cụ?”
“Thì nó chớ còn ai nữa. Ăn no ở địa phương, rồi đá lên Trung Ương cho đánh quả tầm cỡ là “bài bản” chống tham nhũng đó chú! Chú có máy ảnh, bấm một cái làm kỷ niệm đi!”.Tôi hơi sợ, luống cuống nhìn quanh. Ông cụ cười, miệng không còn chiếc răng cửa nào, khích “Chú chụp nộp cơ quan mà, lo chi!”.Tôi thành thực “Cháu không phải là công an đâu!”. Một người đàn bà xông tới kêu: “Chú là phóng viên không biên giới, phải hông? Chụp hình tôi đi, tôi là dân oan đi khiếu nại 20 năm rồi… Chụp đi cho mấy ổng trong “đúp vê tê u” thấy, giúp tụi tôi có chút công lý. Ăn cướp mà hội nhập với thế giới được thì cả thế giới này chỉ là thế giới của kẻ cướp, chú nói vậy giùm tôi”. Không cưỡng được, tôi cờ-lích:
Người đàn bà cám ơn rồi nói nhanh:
“Chú biến cho lẹ, tối nay trở lại… Thế nào cũng có ăng-ten nó báo!”
*
Trời nồm báo giông. Tối nhá nhem, mây nặng trĩu chỉ chực đè xuống Hà Nội nóng như lên sốt. Điện cho Thụy, tôi xin được số Ban Mai ở Hoà Bình, nhưng là số cơ quan, tôi gọi không ai trả lời vì quá giờ hành chính. Ăn qua loa, tôi quyết định quay lại vườn hoa đang đươm độc với những người dân oan mất nhà mất đất, chủ ý tìm hỏi nhà ngoại cảm có khả năng đối thoại được với thần linh. Dĩ nhiên, tôi không dám nói với ai. Để lấy can đảm, tôi lại lấy tâm thế của một điệp viên nhị trùng đang bị bám, chơi trò đi vòng vèo, khi taxi khi xe ôm, tưởng tượng mình “cắt đuôi” địch. Đến gần vườn hoa, tôi tản bộ như một kẻ nhàn du, vào quán cháo giáp giãy nhà bỏ hoang. Dân oan giấu màn chiếu chăn mền ở đấy, mắt trước mắt sau, lúi húi xách về vườn hoa, lưng gò xuống tưởng có thể bé đi như con giun cái kiến. Đi theo họ, tôi bước vào một kịch trường kỳ dị:
Cảnh 1
Phông màn là những mảnh bạt plát- tích căng lên che trận mưa sắp ụp xuống. Đây đó, già trẻ lớn bé túm năm tụm ba nấu mì ăn liền, chỗ dùng bếp ga loại xách tay, chỗ chụm củi, tất cả lúi húi vội vã.
Bà già Kiên Giang (hướng về một cháu gái chừng mười tuổi)
“Lè lẹ nghe, coi bộ sắp mưa… (Bà ngửng nhìn trời, giọng ai oán) Đến trời cũng tiếp tay hành dân thế này à!”
Cháu gái:
“Mưa xuống cháu tắm cho sạch, bà hà… Mấy bữa rồi mình cháu ngứa, tắm được chắc sướng lắm!”
Bà già Kiên Giang:
“Đừng tắm truồng, cứ để cả quần áo… Mày lớn rồi!”
Gió lên. Những mảnh bạt căng như diều, bốc cao sắp như đưa cả đám người nhớn nhác lên trời. Ai nấy hối hả thu vật dụng. Trời tối xầm xuống. Chớp loé sáng rạch chéo một đường. Có tiếng sấm ì ầm vẳng lại.
Vàng Sao (người Tày, đầu chít khăn nâu, ngước lên):
“Mưa này ào xuống một lát rồi thôi!”
Một thanh niên hớt hải chạy vào. Đứng cạnh tượng Lý Tự Trọng, anh ta nói lớn:
“Có ba xe cảnh sát chặn đường ra, một xe bịt bùng và một cam nhông vận tải hiệu Huyndai. Tụi nó tính sẽ “cất vó”, báo để bà con sửa soạn!
Sư cô Đàm Niên (buột miệng rì rầm): Nam mô a di Phật cứu khổ cứu nạn…
Dân oan cuộn chăn màn đem giấu không để công an tịch thu mang ra đổ ở bãi rác Phúc Xá. Họ hối thúc nhau, trong khi mưa bắt đầu rơi.
Một cụ, ngực đeo đầy huân chương, đứng lên:
“Bà con cuốn cả bạt đem giấu, đằng nào thì cũng ướt đêm nay. Nhanh lên! Xong rồi ngồi bệt xuống đất, người này khoác tay người bên cạnh, khoẻ vòng ngoài, yếu vòng trong, níu lấy nhau khi bị lôi kéo… Nếu bị tan hàng, cứ nằm xuống, bà con nghe rõ chưa?”
Một sĩ quan công an tiến vào vườn hoa, quát:
“Bà con giải tán đi. Ngày kia họp Quốc Hội, chúng ta phải giữ “cảnh quan”, không nhếch nhác được!”
Cụ ngực huân chương (tiến lên một bước):
“Quốc Hội đại diện cho dân, kể cả dân oan chúng tôi đã thưa kiện khiếu nại vấn đề nhà đất cả chục năm nay. Kêu từ địa phương kêu lên Trung Ương nhưng vẫn không giải quyết nên mai này chúng tôi kêu đến những vị đại diện dân chúng tôi, để họ biết tình trạng chúng tôi nhếch nhác, càng nhếch nhác càng là sự thật! Chúng tôi không đi đâu hết!”
Sĩ quan (cười khẩy, mắt nhìn những tấm huân chương, giọng khiêu khích):
“Huân chương cụ mua đâu mà lắm thế!”
Một đầu gấu lực lưỡng đến đứng bên viên sĩ quan.
Ông cụ (nghiêm giọng):
“Huân chương này, chống Pháp có, chống Mỹ có, đều là do nhân dân cho tôi từ ngày các anh chắc còn bé đấy. Đừng ăn cháo đá bát…”
Đầu gấu (trừng mắt): Mày chửi ông à! Đúng là thân lừa ưa nặng (chưa nói hết câu, hắn đấm thẳng vào ngực ông cụ).
Ông cụ ngã chúi xuống, những người bên cạnh vội đỡ lấy, lôi vào vòng trong.
Bà cụ Thái Bình (rít lên):
“Chúng nó đánh người lương thiện, Đảng ơi!”
Mưa xối xả trút xuống. Đám đông, đâu khoảng sáu, bảy chục người, đồng thanh hô:
-Sống theo hiến pháp, pháp luật.
-Đảng ơi, cứu lấy dân.
-Đả đảo bọn lưu manh côn đồ khủng bố nhân dân.
Ông cụ bị đánh, miệng ứa máu, cố cất tiếng:
“Bà con không bạo động, đừng trúng kế khiêu khích!”
Thanh niên (khi nãy báo tin khoác tay sư cô Đàm Niên, ngước lên nhìn viên sĩ quan):
“Công an để đầu gấu đánh dân mà lơ đi à? Còn cái khẩu hiệu “thức cho dân ngủ, gác cho dân yên” nay đâu rồi?”
Sư Đàm Niên:
“Bây giờ à, nay thì “hét cho dân sợ, cướp cho dân trắng tay”. Nam mô a di đà Phật, đến chùa cũng cướp. Cướp thế là đi cướp cả cái phần thiêng liêng của bá tánh… Đi kiện, Ủy ban Tôn Giáo chỉ tay xuống phường, hỏi phường, phường bảo lên quận, đến quận, quận phán vấn đề là Trung Ương, ra Trung Ương, Trung Ương bảo đó là trách nhiệm cuả Ủy ban Tôn Giáo… Trong khi đó, bức tượng La Hán ở chùa ngoài thì bị đem trưng ở một cửa hàng đồ cổ bán cho khách từ Đài Loan, Nhật… Chục năm nay, viết gần ba chục lá đơn, chẳng ai giải quyết cho. Nay ra vườn hoa chầu trực thì cho đầu gấu đến đánh, thế là sao hả, Đảng ơi, Chính Phủ ơi!!!”
Đám người thình lình lại đồng thanh hô:
-Đả đảo bọn cậy quyền cướp nhà cướp đất…
-Đả đảo bọn cướp ngày tham nhũng…
Giữa tiếng hô đả đảo, phóng thanh rè rè cất giọng:
-Lực lượng Công an Thụy Khê để đồng bào đúng nửa giờ thu dọn, sau sẽ vào giải tỏa khu vườn hoa…
Vàng Sao (ồm ồm):
“Bay đuổi tao từ rừng chạy xuống, nay còn cứ đuổi thì tao đi đâu đây! Nương rẫy tao bay lấy, rừng tao bay chặt sạch, con suối nước trong nay hóa đục. Cho đến con gà con chó nhà tao bay cũng giải phóng luôn, để tao nuôi sáu đứa con tao bằng củ mài, củ sắn…”
Trời vẫn cứ mưa, dân oan thấm lạnh co ro ngồi chụm vào nhau. Đột nhiên có tiếng rú: “Trời ơi, ông làm sao thế này, ông ơi!” Đó là tiếng cô cháu ông cụ ngực đầy huân chương, nghe đâu nguyên Đại Tá quân đội nhân dân, từng tham gia chiến dịch Tây Bắc, bị thương lần đầu ở Điện Biên Phủ, hai lần sau ở Khe Sanh rồi Quảng Trị. Hai ông cháu từ Hoa Lư về thủ đô với một bị đơn kiện của nông dân mất đất, vất vưởng cả hai năm nay, lắm khi phải trốn vì sợ Ủy Ban Tỉnh phái người ám toán. Sư Đàm Niên đến cạnh ông cụ thò tay bắt mạch. Mắt nhắm nghiền, ông cụ thều thào:
“Không sao, chỉ lạnh thôi, lạnh lắm! Trận này, vì nhân dân, ta phải thắng, có hy sinh đến đâu thì nhớ lời Bác, bảo đi là đi, đánh là đánh, toàn thắng… ắt về ta…”.
Sư niệm Phật, giọng buồn bã:
“Ông cụ mê sảng rồi…”
Vàng Sao cởi áo mưa chăng lên che, ai đó đem một cái chăn bộ đội đắp cho ông cụ. Tiếng loa phóng thanh lại cất lên. Mưa ngớt dần, sương trắng đục bốc lên là tà mặt đất ướt sũng. Ông cụ mở mắt, lắng tai, miệng nhếch cười, nắm tay cô cháu, tiếng còn tiếng mất “còn sống, cháu phải tiếp tục kiện, nghe không!”. Ông lại mê sảng “Toàn thắng… ắt về ta. Nhưng để dân thế này là sao, Bác ơi?”
Tiếng loa phóng thanh, tiếng dùi cui đập vào những lá khiên nghe chói tai, rồi tiếng huýt còi, tiếng chân dận đất thình thịch. Ông cụ cố gắng hét lên:
“Không sợ! Vì công lý…”
*
Cảnh 2
Trời đột nhiên sáng rực lên. Một chiếc cầu vồng bắc ngang tầm mắt, mầu sắc rực rỡ, từ những bực thềm nhìn như Lăng hoàng đế, lơ lửng giữa không trung, từ từ hạ xuống kéo thành một bức tường. Thành quách hiện ra, uy nghi, sống động. Bà già đến từ Hải Dương xưa nay mắt toét nhèm nhìn gà hóa quốc la lên: “Giời Phật độ trì, nay tôi nhìn thấy được rồi!”. Dân oan trợn mắt, ngỡ ngàng đồng thanh hỏi, bà thấy gì, ông Chủ Tịch nước hay ông Tổng Bí Thư Đảng. Bà lắc. Thế thì chắc ông Thủ Tướng? Bà lại lắc, kêu lấy tay xoa mắt rồi chú mục nhìn, sẽ thấy, lạ lắm. Con bé định tắm lúc nãy chợt nhẩy cỡn lên, hét “cháu cũng thấy!”. Dân oan lấy tay che mắt nhìn như nhìn ống nhòm. Đúng lúc ấy, nhà ngoại cảm tên Hằng xuất hiện. Đó là một thiếu nữ thon nhỏ tuổi chừng đôi mươi, đầu đội khăn vàng, mắt sâu, to, và đen thăm thẳm. Sư Đàm Niên thốt lên:
“Mô Phật, hình như lính gác Lăng quân phục trắng, phù hiệu đỏ, đang từng bước xuống vườn hoa này, bà con ơi!”
Cô Hằng mỉm cười, giọng vui vẻ:
“Thì chính là họ đấy, giờ này là giờ đổi gác. Nhưng nhìn ngay giữa kìa, hình như ông Cụ cũng xuống đường…”
Dân oan nhẩy lên trầm trồ “Đúng thế!”. Đám đầu gấu tiên phong vào đuổi dân trố mắt ra nhìn. Không đứa nào bảo đứa nào, chúng lùi lại như để tự vệ. Viên sĩ quan công an điện về trụ sở, báo chuyện lạ, chờ lệnh trước tình thế mới.
Đoàn người di động theo đường vòng cung. Giữa hai hàng lính, ông Cụ bước, chân đạp vào không khí, bên cạnh là một nhà sư trọng tuổi, râu trắng, lông mày trắng, tay cầm thiền trượng choé sắc kim mầu vàng. Khi đến gần đám dân oan, ông Cụ cất tiếng. Không một ai nghe được gì, đưa mắt nhìn nhau. Dân oan thấy ông Cụ máy môi, cố đoán, nhưng rồi nhìn về phía nhà ngoại cảm cầu cứu. Cô Hằng lắng tai, rồi dịch:
-Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa đã cho họ những quyền không ai xâm phạm được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…
Dân oan òa lên khóc.
Con bé (níu tay bà già Kiên Giang, giọng quyết liệt):
“… Đấy, cháu có quyền tắm mưa. Tắm truồng mà thích cũng là quyền mưu cầu hạnh phúc!”
Bà già bóp tay cháu, nó kêu đau ầm lên.
Viên sĩ quan công an (nói vào máy điện đàm, giọng hốt hoảng):
“Ai cũng thấy chuyện lạ. Bây giờ thủ trưởng bảo phải làm gì? Cứ tấn công hay ngưng kế hoạch? Dạ, dạ… cứ cho đầu gấu xông vào như dự trù! Mười lăm phút nữa là hạn chót, tôi nghe rõ!”
Thình lình, ông già ngực đầy huân chương bay lên, lơ lửng rồi trôi như một cánh buồm về phía ông Cụ. Lính gác Lăng không hiểu thế nào lại giơ tay đứng chào theo nghi lễ.
Vị Sư (đứng bên ông Cụ bước lên một bước, tay chắp, miệng nói):
“Lão hữu đã về. Thế mà đã gần nghìn năm…”
Đến trước mặt ông Cụ, ông già cởi từng tấm huân chương ra tung vào không khí. Chúng hóa thành những con chim quyên liệng cánh xa tít, để lại tiếng hót ảo não buổi đông hàn nhiễu những giọt máu tươi.
Ông già (nghiêng mình, tay chìa đống huân chương):
“Tôi xin hoàn Cụ, toàn là những cái ảo. Ảo thế, mà tôi suýt chết ba lần!”
Ông Cụ (thở ra):
“Có ai ngờ! Mà thôi. Việc trước mắt là…”
Ông già (cướp lời):
“… là đưa đơn kiện của dân oan để giải quyết cho công bình!”
Ông Cụ (chép miệng):
“Thế thì đưa đến đâu ? Nay chỉ có thể đệ đơn lên Thiên Tào. Nhưng chú biết có biết không, Thiên Đình cũng chẳng hơn gì chính quyền dưới thế, quán tính không phải là ít, khá bảo thủ, trì trệ, chính sách nói chung đúng nhưng chẳng bao giờ cấp điều hành làm tốt cả…”
Vị Sư (cười):
“… nhưng được cái ít tham nhũng! Trên Trời không có đất nên đỡ được cái vụ cướp đoạt có qui hoạch như dưới trần gian này!”
Vị Sư vừa dứt lời thì một trăm đầu gấu hò hét xông vào vườn hoa. Chúng đánh đá loạn xị, quẳng mùng mền, giật những mảnh bạt xuống đất, vừa chửi vừa cười hô hố. Thế quyền thịnh nộ nên tất cả quá khứ vị lai bỗng như chưa hề có, chỉ còn độc một hiện tại thô bỉ làm như cuộc sống này không thể khác đi được. Bây giờ, chỉ còn tiếng nguyền rủa, oán thán. Bây giờ, chỉ có nước mắt. Bây giờ, chỉ rên xiết, quằn quại. Ông già ngực đầy huân chương vẫn là một người may mắn: ông đã chết!
Thình lình, sét nổ, lửa xé trời thành hai mảnh xanh lè. Trong ánh sáng quái đản của buổi tạo thiên lập địa, Vị Sư vung thiền trượng tạo ra một vòng tròn sắc vàng, miệng quát:
“Ngày ta mang đến đất này ý thức một dân tộc, lập triều Lý với Đạo hạnh và Phật pháp, ta đâu có tiên liệu được con rồng cất cánh mười kỷ trước nay thành một con rắn đất chỉ biết ăn bẩn rình lũ gà con…”
Cô Hằng (rú lên):
“Thầy, thầy lại về. Xin thầy cứu lấy đám dân oan chúng con…”
Đám đầu gấu bị oai lực cây thiền trượng đẩy lùi bẩy bước, ngã lăn cù, tản ra chạy lui.
Vị Sư (buồn bã):
“Dân oan phải tự cứu, ta chỉ làm được có vậy!”
Lực lượng an ninh tung “Quái long quỉ pháp”. Roi điện oằn oại trên không như những con bạch tuộc chụp xuống. Dân oan náo loạn la thét inh ỏi. Một trung niên hớt hải, một tay che đầu, tay kia níu cô Hằng, giọng van vỉ, “… cô có ngoại cảm được một người tên…, bị bệnh hoang tưởng, đã từng đến vườn hoa này một hai tháng trước không?”.
Cô Hằng (giọng không còn nhẫn nại):
“Lúc này mà hỏi những chuyện vớ vẩn thế à! Đi đâu nghe tiếng gào tìm Đào Hạ Trang thì chính là hắn, kẻ hóa rồ nhận mình là một người bạn triều Lý…”
N.D.