Thursday, May 18, 2017

Thơ Đỗ Quang Vinh

Khoảng khắc


Anh là một hòn đảo
để em đến và lãng quên
tên của những đại dương bao bọc chúng ta
và những ranh giới ở đất liền
anh biệt lập
tựa một đường chân trời xa tít tắp


Với những bình minh
nắng phủ rộng khắp
và mỗi hoàng hôn đều u uẩn xa xôi


Với núi cao, rừng xanh và vực sâu thăm thẳm
chỉ thiếu mỗi con người
bởi tất bọn họ đều bị cấm
con người là một sự hiểu lầm
bởi tất cả những năm tháng họ đã chồng chất lên nhau
tất cả những nỗi đau để đánh đổi niềm vui
tất cả mùi vị để hòng hiểu được cái ngọt ngào đầu tiên


tinh khiết


Anh như một đường chân trời
chẳng kẻ nào biết nó sẽ dẫn tới đâu


Anh là một cánh đồng
một buổi sáng em đi rong
nơi nào đôi chẩn mỏi đều có thể nằm dài xuống
gió đang nổi lên
và những ngọn cỏ nhảy múa cuồn cuộn
nếu em với tay lên
có thể chạm được nỗi buồn
cái vỗ cánh mong manh của con chuồn chuồn
một tia nhìn xuyên qua tầng mắt lá


Con người là một lớp mặt nạ
khi họ bước vào hôm nay
thì tâm trí vẫn còn nằm ở những ngày đã qua
và người ta chết trước khi kịp già
hay già nua trước khi kịp là một đứa trẻ


Chẳng ai biết
ý nghĩa của một hơi thở nhẹ
anh muốn em nghe
tiếng cả vũ trụ đang rùng mình...


Trên hòn đảo
giữa đường chân trời
nơi cánh đồng
mỗi căn phòng ta bước vào đều là một thế giới mới


Con người là những kẻ du hành
nhưng thật ra họ chỉ luôn chờ đợi
ta sẽ ngồi im nhìn bầu trời trong xanh
nhưng thật ra
ta vốn dĩ đã tới nơi...


Kẻ du hành


Em có biết
kẻ du hành trong anh
hắn còn mong manh hơn cả một hơi thở
với chuyến đi vẫn còn dang dở
hắn thèm một giấc ngủ sâu
nhưng không thể
bởi đầu óc anh là một miền bất tận


Em có biết gì về
những trò đùa của số phận
kẻ du hành trong anh
hắn chỉ muốn đi khắp cả thế gian
với một cơ thể trần truồng
và niêm vui là những ngọn núi cao
còn nỗi buồn thì sâu như vực thẳm
kẻ dù hành chỉ biết vượt qua
trong mắt hắn không có vùng đất nào bị cấm


Anh đứng im
cho tâm trí di chuyển
Ngồi trên thuyền
vứt bỏ mái chèo
mặc dòng nước đẩy mình trôi


Kẻ dù hành
hắn ở rất xa xôi
khi cơn gió nổi lên
lúc con nước bồng bềnh
nơi mặt đất bị lãng quên ở miền hoang địa


Em có biết gì về
những điều không bao giờ có thể cắt nghĩa
kẻ dù hành anh
hắn muốn đi tới bên rìa thế giới
và với lên
cái xa thẳm của bầu trời...


Gặp Phật diệt Phật.


Đêm qua tôi mơ
Phật đang ngồi đốt sách kinh
Ngài bảo rằng
ta sẽ xóa hết dấu chân mình
để những kẻ muốn nhìn thì không thể thấy
để những kẻ muốn Niết Bàn
sẽ luôn sa vào hố bẫy
Ta sẽ đốt hết sách họ viết về ta
và trả tro tàn về bón những rừng cây


Đêm qua tôi mơ
Phật đang ngồi xé những bài kệ xếp máy bay giấy
Ngài phẩy bàn tay
và rồi chúng bay đi
Băng qua những thành trì
lướt trên đỉnh những tòa tháp vàng
mọi chùa chiềng và bức tượng
Ngài bảo rằng thứ không có cân lượng
thì luôn bay
chúng chẳng dừng lại bao giờ


Trong giấc mơ
Phật đang nổi trôi bồng bềnh giữa bể khổ
Ngài bảo rằng không muốn quay đầu về bờ
vì đôi mắt đang mãi nhìn ngắm phía trước,
cõi hư vô


Sóng đã đến
và sóng sẽ xô


Buổi sáng ta là giọt sương mai
khi chiều buông như con chim về tổ


Đêm qua tôi mơ
trong vũ trụ vạn vật đều có chỗ
Nên không cần ai là Phật


Buổi sáng ta là một cơn mưa đổ
khi chiều về đã thành chiếc lá héo khô


Buổi sáng ta là một nắm mồ
khi chiều về đã hóa một chồi non mới mọc


Đêm qua tôi mơ
Phật dạy rằng điều cuối cùng mà tôi phải học
Hãy đốt ta
như ta đã đốt chính mình...

Ẩn ức


Sớm nay
lòng em đã xanh chưa?
Tôi nhìn vào bên trong mình
chỉ thấy chứa đầy sắc xám
ở những chỗ linh hồn
mà bàn tay người khác đã cắt phạm
máu vẫn chảy ra
ký ức từ một ngày đã qua
còn đọng lại đến bây giờ


Đêm qua
em đã mơ chưa
Trong giấc ngủ tôi nghe mưa rơi bên ngoài
tựa như những giọt nước mắt mệt nhoài
muốn lấp đầy hố thẳm
khi ta nằm xuống
chỉ thèm có thể tắt hết mọi suy ngẫm
nhưng rồi
chúng vẫn còn lại đâu đây


Tựa một cái cây
hay một khu rừng
những dòng chảy chẳng bao giờ dưng lại
Tôi thấy mình đã chuyển từ vui vẻ, buồn bã đến hân hoan và sợ hãi
như mỗi ngày
đều sẽ ngả vào lòng bóng đêm


Và biết bao lâu nữa em mới hoàn toàn "ở đây"
không một mảnh nhỏ nào còn lang thang giữa một nơi chốn "khác"


Sớm nay
em có còn đi "lạc"
riêng tôi thì
đã trôi dạt từ lâu...



Nhà văn Y Ban đọc thơ tiếng Việt tại Paris cùng 24 nước trong cuộc thi thơ Slam

Sao.
Sao chia năm để thành cũ mới.
Sao chia tháng để tháng mất tháng còn.
Sao chia giờ để biệt ly vời vợi.
Sao chia giây để hi vọng mong manh.
Sao không như mặt trời kia
Vẫn toả sáng không phải do trái tim con người đang múa hát.
Và bóng đêm bao trùm đâu phải vì nước mắt rơi.
Chỉ đơn giản một vòng quay lặp lại muôn đời
Và sao không như cỏ kia.
Cúi sát xuống đất chết từng bầy.
Và sống dậy miên man khi luân hồi đến.
Quyển lịch mới ta ơi xin đừng xé.
Để hết năm ngày cũ vẫn đong đầy


Thơ viết lúc rửa bát.

Thế gian ơi đêm nay đừng giao hợp.
Để chặn vòng luân hồi của kẻ ác nhan nhản quanh ta.
Và ta nữa mẹ ơi đừng cho con mượn dạ
Nào kiếp người này có ích gì đâu
Chữ với nghĩa đã nhuốm mùi tiền bạc.
Những tờ tiền mua cả sự tự do.



Nghi lễ trước bữa ăn

Em bé ơi.
Nước mắt em rơi trong từng miếng cháo
Tại sao em không ăn
Con chim cũng cần mồi
Để hát khúc hát tự do
Con dế cũng cần cọng cỏ non
Để tấu lên khúc bi ai
Em có mặt trong cuộc đời
Em cũng phải ăn
Để sống
Tại sao em không ăn?
Trong bát cháo của em
Mặn chát nước mắt của cha mẹ em
Những người công nhân nghèo
Còng lưng làm lụng?
Trong bát cháo của em
Mặn chát nước mắt của bảo mẫu
Vừa đánh em
Trong bát cháo của em
Mặn chát cả giọt nước mắt của đất
Sợ hãi một ngày kia
Bị vùi dưới lớp cát
Không còn cho được hạt thóc mùa màng.
Trong bát cháo của em gánh cả gánh nợ.
Không phải cha mẹ em vay.
Không phải ông bà em vay.
Người ta vay.
Không phải để làm nhà trẻ cho em.
Không phải để dạy những cô bảo mẫu.
Cách cho em ăn mà không phải đòn roi.
Người ta vay.
Để vẽ nên những dự án trăm tỷ nghìn tỷ
Không mang lợi ích cho dân.
Và chia chác cho nhau
Gọi là tham nhũng
Người ta vay
Thành nợ công.
Chia đồng đều cho mỗi người dân.
Vừa sinh ra em đã mang vác trên lưng món nợ.
Em bé ơi.
Nước mắt của em.
Đã như một nghi lễ.
Trước bữa ăn
Để nghĩ về một món nợ tương lai.



Hãy khóc thương tàu lá chuối

Đất cứng lắm
Và trời lạnh lắm
Em ngủ ngoan được không?
Quỷ dữ đột lốt người
Giết chết em
Giết cả phận nghèo
Nào đâu em muốn mang
Em sinh nhầm thời đại
Em vẫn muốn sống ở trên đời
Hồn nhiên như thiên thần
Hồn nhiên như cún nhỏ
bạn em
Trong giấc mơ em
Thành con cò trắng
Con cò con vạc
ai nuôi
Em sống ở đời
Trần trụi không cần áo quần
Thì có cần chi manh chiếu
Đắp thân em
Khi lìa đời
Một tàu lá chuối
Vừa kín thân em
Tránh muỗi ruồi
Kinh động giấc ngủ em
Em đã sống
Và em muốn sống.
Ngó ra từ tầng mây trắng lòa
Ngạo nghễ một nụ cười gửi cho tôi
Kẻ thương vay
Khóc mướn.
Cứ khóc đi và cứ đau đi
Đời còn ngàn lần đau hơn thế
Bẻ gãy bút đi
Và nhắm mắt làm ngơ
Vì ngươi vẫn sợ vô vàn thứ
Vô vàn thứ vô hình trói buộc ngươi.
Em đã tự do tuyệt đối.
Hãy khóc thương
tàu lá chuối
kia thôi.
YB.


Khúc hát ru trên sông Trà Khúc.

Chín đứa con trai.
Chết trên sông Trà Khúc
Trước ngày giỗ tổ Hùng Vương.
Bánh chưng hai phảy năm tấn
Lễ vật tế ông
Sao ông vẫn chưa hài lòng
Ông còn bắt đi những sinh linh vô tội.
*
Này kẻ láo xược.
Trăm con trai của ta đã chết hết cả rồi
Chỉ còn lại sản phẩm lỗi của các người
Từ giáo dục
Từ giáo điều
Từ những lời dối trá
-Vnen là cái gì?
Thông tư 30 là cái chi?
Đổi mới cải cách ư?
Khi lũ trẻ đã chết
Đồng phục chúng để lại trên bờ
Những cuốn vở chúng để lại trên bờ.
*
Hỡi tất cả thánh thần của dân tộc
Xin hãy hoá thân thành chín người đàn bà
Ôm nỗi đau không thánh thần nào có thể làm cho nguôi ngoai
Trước nỗi đau mất con trên sông Trà Khúc
*
À ơi, tôi hát ru nỗi đau.
Hãy đừng ngủ yên dưới dòng sông ấy
Hãy cất lên thành bài ca buổi sớm
Để đánh thức sự u mê
Vì quyền lực
Vì tiền bạc
Vì lợi ích nhóm
Hỏi còn lại gì
Khi các em đã chết hết cả thế kia.
YB.


Ơi chú ngựa bất kham.

( trích)
Bờ xôi ruộng mật,
cánh đồng xưa thẳng cánh cò bay.
Lúa vào thì con gái,
hương thơm quấn vào chân người đi,
lỗi bước.
Hồn thơ thới trải vào ánh xanh.
Lúa chín,
cánh đồng vàng nối với chân trời
Người nông dân hân hoan.
Nụ cười rạng rỡ trên gương mặt sạm đen nắng gió.
Còn ruộng đồng không bao giờ chết đói.
Ngàn đời nay niềm tin đã đóng đinh vào trái tim người
Từ cánh đồng nền văn minh lúa nước ra đời.
Ca dao cổ tích.
Chiếu chèo rộn rã sân đình.
Chú tễu cười váng dưới ao.
Sừng sững bước cùng nền văn minh nhân loại
Sao cứ phải hiện đại hoá công nghiệp hoá.
Sao cứ phải thành công nhân.
Người công nhân vô sản
Dự án đến.
Đồng ruộng bị bức tử dưới lớp cát.
Đồng ruộng cầu cứu người nông dân
Người nông dân lấy thân mình che chở cho cánh đồng.
Trên ti vi mẹ nhìn thấy dùi cui và những họng súng.
Mẹ không sợ.
Vì mẹ tin người nông dân sẽ thắng.
Bỗng tim mẹ nhói đau như vừa bị trúng đạn.
Khi mẹ nhìn thấy trên cò súng là ngón tay của con trai mình

VII.
Một người làm quan cả họ được nhờ.
Mẹ có cần nhờ vả gì ở một ông quan?
Khi đôi bàn tay của mẹ đã làm lụng để kiểm đủ cái ăn cái mặc.
Mẹ còn để dành cho ông quan lương thiện khi thành thứ dân.
Mẹ chỉ nhờ con một điều,
hãy là một ông quan lương thiện.

VIII
Nếu có một Gaddfi thứ hai
phải chết trong ống cống
mẹ cũng đến bên để ôm lấy thân xác không còn linh hồn .
Đôi tay mẹ run run
Mẹ đã già quá rồi.
Và mẹ quá khổ đau
Mẹ vẫn nói rằng,
mẹ yêu con,
con trai.
Mẹ vẫn yêu con như mẹ đã từng yêu con đến vậy.
Mẹ tha thứ cho con tất cả.
Thời tao loạn,
mẹ không có quyền lựa chọn.
Mẹ phải biết chấp nhận.
Cả thiên thần và ác quỉ,
mượn thân xác mẹ để làm người.
Để mẹ yêu cả phần người,
phần thiên thần và ác quỉ.
Mẹ tha thứ cho con , là cách mẹ tha thứ cho chính mình.
Khi người đời nguyền rủa mẹ đã sinh ra con.
Con trai ơi,
dù con có là người ra sao
mẹ cũng luôn yêu con.
Như đã từng yêu con đến vậy.
Mẹ cầu mong con quay về,
Một người đàn ông lương thiện
Mẹ có đòi hỏi con quá nhiều không?
Ngày 21.6.2013.

Sunday, May 7, 2017

Thơ Nguyễn Nhật Huy

Phố

Tiếng đàn đêm bỗng rộng
hơn cả căn phòng
dòng sông
thành phố
lại lạc mình trong đó
một tiếng muỗi vừa no giấc mơ căng bụng
chậm chạp nhìn nhau
Đêm tựa vào vai
chảy như mình trôi mất
Màn hình chớp mắt dần chết cho bản nhạc cuối cùng
vệt thắt thời gian
Tiếng dội nước trong căn phòng tắt sáng
bài hát đâm kim vào trí nhớ tê dần
không nỡ ngủ sợ mình quên mất
phố ngọt buồn rụng những dấu chân

Những cuộc tình mọc dịu sau lưng

Những cánh đồng sau lưng tràn cỏ
Anh đã không ngoái lại nhìn một ngày đang úa
trong chính sắc hoa
Những cuộc tình từng mọc
tê tái nở nhiều màu
mùi phấn buồn dịu còn đầy trong gió
Người không thả nổi phút cô đơn theo dòng nước
mãi ngắm nhìn sắc hoa cũ ngập sương
Phản chiếu của buổi chiều mờ mịt hơn đôi mắt
Đóng khung kỉ niệm vào mình
Đêm lặng nghe từng cánh hoa nở
trong cuộc tình từng mọc dịu sau lưng

Bên nhau

Những viên thuốc tan chạy trong mình ngày đậm gió
Nghe ngực đập phồng hình lá khô
Có những ngày xa xót giấu đi
Sau vành gân cành mục
Thấy khát hơn con chim bạc tiếng
Sà vào bóng sương rơi
Rồi mỗi cuộc đời sẽ qua khi trên bàn lọ thuốc cạn dần cùng kỉ niệm  
Sợ mình không còn nhớ gì để dịu buồn
Một cái hôn hạnh phúc
Nằm bên nhau như viên thuốc

Tan cho nhẹ những ngày buồn

Monday, May 1, 2017

Thành phố của dân


Dạ Ngân

Năm 1963, bé 11 tuổi lần đầu được người cô trời biển đưa đi Sài Gòn. Cô ấy là cô Ràng trong Miệt Vườn Xa Lắm và Gia Đình Bé Mọn (tên thực của cô là Rỡ, cô Tư Rỡ). Tinh khôi tới tận bây giờ cảm xúc với những thứ có tên lần đầu. Lần đầu Xa cảng Miền Tây, lần đầu xe thổ mộ miền Đông, lần đầu tàu hũ Chợ Lớn, lần đầu tô phở Bắc, lần đầu que kem Tân Sơn Nhất, lần đầu xi nê rạp Nam Quang…Mấy ngày sau bé đã úp mặt vô tường nhớ vườn nhà nhớ má nhớ chị nhớ em và lần đầu biết cảm giác miếng cơm hớp nước nhà người!
Gần 20 năm sau, thiên lý văn chương cho cô bé ngày xưa lùng nhùng với một nhà văn đi từ Hà Nội vào, cả hai ưa vắt vẻo trên xe đạp đi xuyên tâm Sài Gòn. Tâm trạng mắc cạn khi “va phải” tình yêu trong bối cảnh ngặt nghèo không biết ngày sau ra sao, chúng tôi khám phá những phận người. Em bảo bến thổ mộ đi Bà Điểm mãi năm bảy lăm vẫn còn à? Cửa chợ An Đông đây, chiếc ba gác cô Tư để em ngủ nhờ qua đêm trên đó ở góc nào? Ồ, cô Tư dám để em ngủ thế rồi đi sang nhà vựa cầu Ông Lãnh cất hàng ư? Sao chỉ có bến xe miền Tây gọi là Xa cảng, anh thích cái tên Xa cảng, hay và rất đặc trưng. Em thấy đó, nếu chúng ta không kiên nhẫn thu xếp đời mình, thì sẽ văng khỏi biên chế, anh đi bơm xe lề đường còn em thì làm gì, bán bánh mì hay bán bắp luộc, khi đó chẳng văn chương thơ phú gì nữa nhá, chỉ có địa ngục ở ngay dưới lòng kênh Nhiêu Lộc đen ngòm kia.
Trong một quán cà phê bên bờ Thanh Đa, Nguyễn Quang Thân như một du khách tần mần với sự khác nhau giữa Sài Gòn và Hà Nội. Dòng chảy này đến từ đâu? Những cây me thời Việt Nam cộng hòa nối với tinh thần đô thị của người Pháp là trồng cây lá kim không làm nghẹt cống vào mùa mưa, hoặc là cây rừng già như cây sao bởi đó là loại cây rễ thọc sâu chứ không rễ ngang như cây bàng. Quá rộng lớn và nhiều người lam lũ, cho thấy vệ tinh Sài Gòn là một biển nông dân nguyên sơ chứ không phải nông dân hợp tác xã nón cối, tác phong làm theo kẻng như miền Bắc. Cả những quán cà phê với ghế với những cái ly này nữa, Sài Gòn từng là thủ đô của một quốc gia, đúng, hai miền như thể là hai nước vậy… Câu chuyện cứ đưa chúng tôi lan man vì sao tuột cơ hội vào Liên hiệp Pháp, vì sao người Mỹ nhảy vào và sa lầy, vì sao và vì sao.
Từ Nguyễn Quang Sáng, Thu Bồn, Nguyễn Duy… những người nhiều duyên nợ với Hà Nội niềm tin và hy vọng, chúng tôi khám phá thượng tầng của Sài Gòn qua Sơn Nam, Trang Thế Hy, Trịnh Công Sơn…Ánh sáng của Sài Gòn bật lên không phải trước mắt chúng tôi mà như thể bên trong chúng tôi, càng nhiều năm tháng nó càng lấp lánh vui. Cả hai chúng tôi đều thích nghe Hận Đồ Bàn bằng giọng của chính Chế Linh và cùng thích Khánh Ly với Một Chuyến Bay Đêm. Có gì đó như thể trái khoáy ở sự thích này, lý giải về thích Hận Đồ Bàn dễ hơn, như xưa mình thích Điêu Tàn của Chế Lan Viên. Nhưng Một Chuyến Bay đêm viết về một sĩ quan không quân Việt Nam cộng hòa kia mà? Ô, vẻ đẹp nhân văn là không biên giới và không có tính gì, tính chiến tuyến càng không, vẻ đẹp của nghệ thuật đích thực không có tính gì ngoài tính nhân văn! Và Sài Gòn đã đem đến cho chúng tôi điều quan trọng nhất: dù chính quyền không mấy nhân văn thời kỳ hòa hợp hòa giải nhưng mỗi thường phận của hai bên đã tự ngồi lại với nhau đàm đạo, có khi cùng thở dài, thậm chí cùng tranh luận nhưng người của hai bên đang sóng đôi với nhau và cùng ưu tư với hiện tình đất nước.
Nhiều khoảnh khắc thăng hoa khiến không còn chạnh lòng bởi cơm áo gạo tiền ở tương lai khi hai nhà văn về chung một nhà ở đâu đó, Hà Nội hoặc Sài Gòn. Thích ngồi bên bếp nhà bác Trang Thế Hy trong căn hộ ở Nam Kỳ Khởi Nghĩa để xem bác nấu ăn như thể làm đề cương tiểu thuyết và lắng nghe thuyết lý “đi chỗ khác chơi”. Thích bộ hành với Sơn Nam trên vỉa hè đẫm lá sao và hoa sao vào những chiều sắp có giông, đôi lần nghe ông căn dặn “Đứa nào kêu mình viết vậy là dâm thư thì đập vô mặt nó, đàn bà viết mà không sexy viết văn làm gì!”, ông nói mà không cười nhưng Nguyễn Quang Thân sướng điên lên. Và trước mặt Trịnh Công Sơn ở nhà Thu Bồn thì tiếng guitar trong tay người nhạc sĩ tài danh này bao giờ cũng khiến chúng tôi đắm chìm, trang trọng.
Một lần Nguyễn Quang Thân đề nghị Sơn Nam phát hiện một điểm khác nhau quan trọng nhất giữa Hà Nội và Sài Gòn. Ông già trầm ngâm hồi lâu: “Hà Nội là thành phố không dân, đúng chưa, ai cũng ở trong guồng ăn lương, tư duy khác, nết ăn nết ở khác. Còn Sài Gòn là thành phố của dân, đừng, đừng nghĩ giống với luận điệu của các ổng mở miệng ra là do dân vì dân à nghen. Thành phố của dân là thành phố rất đông người dân, dân đen, dân thường, những người làm nên bản sắc đầu tàu thương mại của Sài Gòn!” Có lẽ, quá đúng, một tổng kết thần kỳ!
Giai do tiền định, cuối đời Nguyễn Quang Thân và tôi chọn Sài Gòn và luôn muốn gọi nó là Sài Gòn. Nhiều người lầm than hơn nhưng tư thế thủ đô một thời nằm ở sứ mệnh của nhiều con người còn muốn đóng góp để làm sáng lại vẻ lấp lánh xưa. Có những khoảng trống cho Sài Gòn bởi sự ra đi của những kỳ nhân. Nhìn lên những tán cây ta thấy lại họ, cắm cúi bước ta cũng nghe thấy họ nhắc nhở ta. Một thời hoa lệ và cũng là một thời vàng son, có lặp lại không? Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào tâm sức của lớp người tinh hoa, và cũng còn do những người cần lao có được sống, được vui, được thụ hưởng những gì từ thượng tầng làm ra cho họ không nữa.
Chúng tôi đã từng mong mình là một hạt phù sa của Sài Gòn. Ngay cả khi chết đi rồi, Nguyễn Quang Thân cũng muốn mình phải đẹp trong lòng bạn bè văn giới báo giới và độc giả của mảnh đất mà anh vẫn ca ngợi là bao dung và nghĩa hiệp.

Saturday, April 29, 2017

Thơ Cao La Tứ Hải

13 âm xa

(chầm chậm từng âm)

xa
âm tim dồn
nghẹn dòng In- ter- net
em hờn
nhưng nhớ

xa
âm thở, mẹ ơi
kìa tủ lạnh ngồi run cong hũ sữa

xa
âm cười cha
vang núi
ao đồng trong mắt cá còn vang

xa
âm chuông
sần đa
đồng vọng
vồng đê quàng làng bao dung!

xa
âm sóng
mát rượi ấu thơ
không bờ
gọi ngày mai về

xa
âm bập bùng
đốt lá
có mưa rào đổ vào lòng hạ

xa
âm vỗ
lúa non
thủy chung bờ cỏ
bầy trâu chầu trời

xa
âm ếch
ồm ồm giọng đất
hương sương vương mải ban mai

xa
âm sáo
điệu ru mặt trời
hỏi diều sao cong hình nhớ?

xa
âm bi
tiếng đi chân rết
hỏi cười sao đến vô tư?

xa
âm hưởng một thời
nghe Thùy Trâm sống làm người
tận tâm!

Tổ quốc hình đàn
13 âm xa
những chân người
giục giã

Tổ quốc hình đàn
13 âm về
những chân trời
nhập ngũ!
Greifswald, 30/9/2005


Tết trong tuyết


Tết trong tuyết
thấm tình quê
tổ tiên về
trên bàn thờ là những con người khai tên cho đất
khai tên cho những người khai tên cho tôi

tết trong tuyết
câu đối đỏ
bánh chưng xanh
và cái gì bàng bạc

tết trong tuyết
tìm lộc xuân
gặp tấm lòng
biêng biếc

tết trong tuyết
tay tìm tay
dấu chân tình yêu
chiều đi mơ trên tuyết
như mây

tết trong tuyết
rơi
rơi
lạnh!

tôi vẫn trên mây
gặp nhau
hai bàn tay tuyết
của mình

tết trong tuyết
trí ngang trời
gia đình ơi
con nhớ!

Greifswald, mồng một Tết Bính Tuất 2006


Leo xuân



băng nứt từng gương mặt
như trứng biển sinh sôi
cá vắt đuôi sang trời
và xuân leo vồng sóng

tuyết tuột dưới chân cỏ
cỏ bật xước mặt trời
và xuân leo giàn chồi

chim leo dốc đường nắng
cây nhảy đều nhịp bay
đất hõm mình đón gió
có tóc đẹp hôm nay

anh leo lần cánh cửa
cửa leo cành hoa tươi
hoa leo vào xuân rồi

em leo xanh da trời
em leo xanh mắt người
em leo xanh tim anh

mà mùa đã chín

xuyên qua dằng dặc đông
những sợi sống leo tìm khoảng trống

mà mùa đã tràn

xuyên qua một chiến tranh
tiếng gõ cửa vỡ chiều hoang lạnh
- sao mình không ngừng bắn sớm hơn, anh?

yếm nâu buông sầu leo âu yếm
và từ đấy ai nấy leo xuân trong leo lẻo vòm cười.


Greifswald, 2006


Lúc la lúc lắc



trong những cái bình lắc
nhiệt sốc
vi khuẩn quay như một lũ ngốc
lúc la lúc lắc

bên bình lắc
kín như bưng một chiếc chum thời gian
những trái tim được sắc
bốc hơi lên mãi chẳng chạm trời

những đàn chim ăn trộm nước thời gian bay mất
ấu thơ thi thoảng cười trong những đám mây trong

ở dưới gốc tham vọng
trên cây không gian phồng rộp nhựa đời
duyên phận khúc mắc
thúc thắc yêu thương
chán chường ý nghĩ
rò rỉ niềm tin
những trái cấm chẳng cấm được ai vin
lúc la lúc lắc

kìa trái tim mang theo hào quang hay là lũ ngốc
tự gột mình qua thác nước ước mơ

bên ngọn cây đói lả đói lờ
trên bánh xe xoay lăn xoay lóc
ở mãi đâu rồi cũng trở về
lúc la lúc lắc

bên bát mồng tơi
ngọt ngào thấm vào từng lá xanh hạnh phúc
trái tim thấy cuối cùng đêm trước
trái tim thấy đầu tiên sáng nay
chum thời gian bật nắp
cây không gian hoa thắp muôn tầng
đỏ mọng trái tim
vươn vai lũ ngốc
bay lên vô cùng
lúc la lúc lắc


Greifswald, 2006

Tôi đi tìm biên giới của tôi



Tôi bước vào siêu thị
ngắm cái rốn tụ mồ hôi thời đại
lỗ đen của những nhu cầu
không mặc cả
người và hàng thích nhau
trong dây chuyền từ mặt trước Địa ngục đến phía sau Thiên đàng
những đồng xu mặt Thiện mặt Tà
những chồng tiền rỗng số


Tôi bước vào ngôi đền
không Chúa
không Phật
không thánh thần nào hết
tôi tự làm tượng sám hối
bấm nhịp máu tự rửa tội
những hình chữ rỗng
những âm kinh rỗng
tâm hoang trắng


Tôi bước vào cái bóng của ai
nếu muốn lặng im như đêm
tôi cởi trái tim khỏi nhịp thủy triều
cởi niềm mong khỏi những chân trời
cho kim ngày xoay trên mặt rỗng;
nếu muốn thoát qua bằng ánh sáng
tôi phải bỏ quên trọng lượng mình
tới tâm kì dị
để khai sinh một vũ trụ riêng


Tôi quay tôi tới một quả tim người
không van
không nhịp
tùy ý vào ra không thổn thức
như một cái biển rất to
không nước
chỉ khi tôi thả những thiên thạch của tôi vào
những nếp nhăn gợn lên khuôn mặt
rồi vồng sóng chưa bao giờ tắt


Tôi đi tìm biên giới của tôi
bước hai chân về phía con người
háo hức lăn như viên bi xuống dốc
một cái dốc rỗng chân
rạo rực cháy như vì sao tự đốt
dốc năng lượng đến nguyên tử cuối cùng


Từng ngày
từng đêm
vũ trụ vẫn nở thêm
tôi vẫn đi tìm em
hay tôi đi tìm biên giới của mình?


04/2005


Sống


SỐNG là xoay những đồng xu hai mặt chữ T (tờ)
đồng nhất Thiện – Tà
đồng ba Tài – Tâm
đồng năm Tình – Tiền
đồng bảy Tục – Thánh
đồng chín Tĩnh – Tranh
đố ai rõ mặt rành rành mệnh chi?
dù ai vì Tạo bước đi
ai ngồi đấy Thưởng vinh quy đẫy đà
vì Thiên hạ hay vì Ta
ai treo khuôn mặt chữ T cho ai?

SỐNG là SÔNG mang cái Sắc của Nước:
Trắng và Trong
đủ gột rửa
đủ bền hơi
đủ lấp lánh
đủ gương soi
đủ cá hồi luân hồi
đủ tình người lụt hạn và bồi lở

SỐNG là học KHÔN
KHÔN bắt đầu từ KH (khờ)
KH có ÔN mới KHÔN
KHÔN hơn KH ở chỗ có Ô và giả đuôi nòng nọc (N)

SỐNG là THÈM
THÈM là thờ em HUYỀN DIỆU

SỐNG là căng da mà THỞ
THỞ là THƠ cõng dấu hỏi trên đầu
tâm O tròn hay đã móc câu?

SỐNG là ri rỉ gì gi?
tôi không cần rõ
ai THỜ Ơ THƠ?
tôi THỞ.

3/2005


Hội An

Trên mái ngói men xưa
Những bông hoa đỏ tím vàng nhung nhớ
Như những đèn lồng tô thời gian rực rỡ
Hội An không bao giờ cũ

Cả thế giới ngồi lên xích lô
Đi dưới đèn lồng đỏ
Những hàng nước phòng thờ phòng vẽ
Những hàng bún cao lầu tào phớ
Giăng mắc ngã tư ngõ nhỏ lạc lối về

Trên những dòng sông từng quấn quýt Cầu Chùa
Lung linh bóng nước ước đêm xưa
Trời treo trăng ngỡ đèn lồng thanh tịnh
Ru Hội An phố thị mộng tình
19/5/2016