Thursday, January 19, 2017

Chùm thơ của Hào Thiện Chân


NIỀM TIN CỦA GIÓ


Xâu chuỗi ký ức
xếp thành một tràng hạt
mỗi viên ngọc là một niềm tin
ấn định của gió.
Tiếng nói vọng lên trong sâu thẳm
tâm hồn kẻ biết tin vào gió
hướng thổi và cường độ
đẩy tôi đi qua những khoảng trống.
Lấp đầy ước mơ.
Trái tim tuổi trẻ cần luôn hát vang
ngân giọng lá
vút cao bài ca chiến thắng
những tầng mây tận đỉnh trời.
Gió cho tôi niềm tin
trong muôn vàn hố vực
luôn nâng tôi bước
sức mạnh đôi cánh thiên thần.
Nếu không có gió
cuộc sống con người sẽ trôi về đâu?...



NGỒI ĐỢI LÁ RƠI

Khi tâm hồn mục rỗng
đời người là khoảng không
như chiếc lá chênh chông
sắp lìa cành. Tiếng động!...

Dòng sông như giấc mộng
trôi êm ả. Thẹn lòng
khi đời sang chương trống
kiếp mình là biển Đông?...

Ngồi lặng nghe gió lộng
khua một chiếc lá hồng
rẩy run. Từng nhịp sống
cồn cào chốn mênh mông.

Lá hồng ơi! Rơi không?
Cho tôi chờ chiếc bóng
đợi tháng ngày thinh không
nhẹ buông. Đau nhói lòng.

Ôi! Chiếc lá. Dòng sông
đừng rơi! Lá nghe không?
Cho tôi ngồi đợi trông
người tôi yêu. Theo chồng!...




SẠN

Ai bóp chết thời gian của tôi
bằng những lời chào đường mật
níu kéo tôi bằng tình cảm cũ mòn.
Im lặng là sự chết.
Cánh cửa nào mở lối
những bước đi loằng ngoằng
người đi không biết mình đi đâu.
Thời gian là cõi chết.
Ban mai. Tôi nào muốn gió
thổi mãi vào lồng ngực tôi
chìm vào tủi hổ.
Thời gian là lặng im.
Một ngày vô nghĩa
bay đi.
Không vướng một giọt mình!...



THỜI GIAN

Thời gian là vết bầm
năm tháng làm mỏi mòn giọng nói
tiếng ban mai chìm âm u nỗi niềm của đá
tôi biết mình yêu em.
Con sông cuộn dòng đục ngầu đỏ lự
mùa đông dòng sông nhớ em trào trực mắt tím
nỗi buồn xa xa nơi đại dương tôi ngóng chờ
mùi gió thoảng chút đêm.
Thời gian cứa vào tiếng tình ái
đời người như lá mạ
yêu đương là ngắm nắng mai hồng
em biết không?
Thời gian là vết bầm
năm tháng làm mỏi mòn giọng nói!...



NHÀ THƯỚC 01

Chiếc thước dựng đứng
lúc nào cũng cao hơn
nằm ngang.
Cuộc sống văn minh thời đại những tòa cao ốc
tôi sống trong một căn nhà tranh lụp xụp chốn quê.
Thước nào cao hơn?
Gió thổi mát mang tai tôi
một buổi chiều nắng mật
long lanh dòng sinh khí đất trời.
Một mình tôi sống
căn hộ
quạt gió thổi trụi tóc tôi.
Tôi không nghĩ những tòa nhà cao chọc trời
thước đo giá trị cuộc sống.
Hay chăng
ngày nào tôi cũng lên face
hút vào thân những dòng tin ngắn lạnh lùng
phát ra từ màn hình phẳng.
Trong một căn nhà thước thẳng trên trăm ngàn mét!....



NHÀ THƯỚC 02

Một tấc, hai tấc, ba tấc
những căn nhà được xây lên
bằng thước.
Chiếc thước thẳng đứng
cao hơn ngàn lần
thước nằm ngang.
Tôi không biết tìm kiếm gì
thế giới đầy rẫy những ngôi nhà bằng thước.
Ngày xưa
ba mẹ tôi cưới nhau
chôn vài cây cột chặt đại ngoài rừng
lợp vài tấm lá tranh
hay lá dừa.
Ngôi nhà được xây lên mà không cần dùng thước...
Ba mẹ tôi vẫn sống
hết cuộc đời.
Ngày mai tôi không biết
con tôi sẽ suy nghĩ gì về tôi
khi chúng sống trong một thể giới
xung quanh là những ngôi nhà chọc trời...



Friday, January 6, 2017

Giải thưởng thơ Du Tử Lê 2016




Trò chuyện với nhà thơ Nguyễn Thị Thuỳ Linh đầu năm mới 2017

Năm 2016 là một năm thành công của nhà thơ trẻ Nguyễn Thị Thuỳ Linh, chị được Giải Nhất cuộc thi thơ Lục bát và Giải nhì Cuộc thi thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, xuất bản tập truyện do chị chuyển ngữ từ các tác phẩm của nhà văn Nhà văn Milutin Đuričković, một kết quả đáng kể đối với một cô gái đang tuổi ngoài 20 trong lĩnh vực nghệ thuật văn chương. Chúng tôi có cuộc trò chuyện từ xa với Nguyễn Thị Thuỳ Linh. 


Như Quỳnh de Prelle: Trong một chuyên đề thi ca, cô gái của thành phố hoa phượng đỏ chia sẻ, chị đến với thơ ca để viết ra những nỗi lòng trong đời sống, như những cuộc trò chuyện mà nhiều lúc không nói ra được không giãi bày được, vậy sau những giải thưởng này, chị có xác định con đường chuyên nghiệp dành cho văn chương không, hay viết như một cuộc du hành thôi? 

Thùy Linh: Tôi chỉ có thể nói rằng, mình đến với văn chương như một cái duyên. Đặc biệt là thi ca cho tôi thấy được ánh sáng, trí tuệ và những điều bí ẩn. Tôi coi thi ca như một người tình thủy chung, không bởi giải thưởng hay một sự vinh danh nào, chỉ bởi duy nhất một điều là tôi yêu. Đơn giản là thế. Tôi sáng tác ra những bài thơ và những bài thơ cũng như sinh ra muôn vẻ tôi, tôi muốn dành cho thơ tất cả sự trân trọng và nghiêm túc.

Như Quỳnh de Prelle: Trẻ trung, lý trí, là những gì tôi nhận thấy ở cô gái xinh đẹp viết thơ, chuyển ngữ các tác phẩm thi ca sang tiếng Việt, một thế hệ mà chúng ta thấy sự mạnh mẽ ở đời sống và những định hình rõ rệt, theo chị, văn chương của thế hệ chúng ta đang ở những hy vọng nào? 

Thùy Linh: Tôi nhận thấy các hoạt động văn chương của giới trẻ hiện nay đang nở rộ đấy chứ. Nhiều trào lưu, khuynh hướng, đa phong cách, thể nghiệm, khả năng ngoại ngữ và tiếp cận thông tin theo xu hướng mở cũng là một lợi thế đối với các cây bút trẻ.

Như Quỳnh de Prelle: Khi viết, chị chú ý đến trào lưu hay bút pháp, hay tư tưởng nào quyết định chị đặt bút, ví dụ như thơ, giữa những lộn xộn, hổ lốn của những cuộc ghép từ, gom nhặt của rất nhiều tạng đang tồn tại hiện nay với người viết trẻ hay những mơ hồ, bóng tối, sự giả vờ nhân danh nghệ thuật cái đẹp, đem những cảm xúc dối trá… thành tác phẩm. 

Thùy Linh: Ồ, tôi chỉ viết khi lòng thật sự bị hối thúc. Tôi đã nhận ra sự thất bại khi cố trở thành một “kẻ thợ” trong nghệ thuật, tôi sợ nhất là phải cố nhào nặn thơ theo công thức nào đó, rồi thêm vào đủ thứ gia vị, màu sắc… Đối với tôi, mỗi sáng tạo là một điều mới mẻ, vì thế khi sáng tác tôi thích phá vỡ các rào cản. Kinh nghiệm cho tôi thấy, sáng tạo và riêng biệt luôn đem đến sự thăng hoa. Nhưng tất nhiên, nó phải xuất phát từ chính cảm xúc thật và sự nhìn thấy, cảm nhận rõ (dù trong chiều kích của tưởng tượng). 

Như Quỳnh de Prelle: Chị viết được cả lục bát, viết được cả thơ tự do, sự kết hợp của truyền thống và sự hiện diện của thơ mới, hiện đại, có khi khó khăn cho chị khi viết hay những giải thưởng cho chị những động lực để sáng tạo, viết ra theo một yêu cầu cụ thể. 

Thùy Linh: Có câu “Văn mình, vợ người”, nhưng có lẽ tôi được đặc ân là có thể nhận ra những điểm hạn chế trong các tác phẩm của mình. Ngay từ khi mới cầm bút, tôi chưa bao giờ bị ru ngủ trong cái tự huyễn là “thơ mình hay”, có những bài thơ giờ đọc lại khiến tôi thấy xấu hổ vì sao nó dở vậy! (cười) Và tôi biết cái dở đó là gì: cảm xúc chưa tới độ, không có thần thái, ý tưởng ngô nghê… Từ những thất vọng ấy đã đem đến cho tôi những kinh nghiệm để đời sau này: chỉ viết khi thật sự muốn viết. Tôi cũng bắt đầu từ thể thơ truyền thống (lục bát). Một thời gian dài tôi chỉ viết lục bát vì đơn giản lúc đó tôi viết tự do rất dở. Ôi, có lẽ phải cảm ơn cuộc đời đã cho tôi tự thấy được cái dở để mà đi tìm cái hay (cười). Và sau này, sau những lần loại bỏ dần cái dở ấy, tôi đã mạnh dạn chuyển hẳn sang vùng đất mới là tự do và cảm thấy tự tin hơn, thăng hoa hơn. 
Còn về giải thưởng, thú thực tôi gửi thơ dự thi cho vui, không nặng nề gì với nó đâu. Vì thơ tôi rất ít khi gửi báo, lại chưa in tập, thi thoảng rảnh chỉ bỏ ra ngắm nghía thôi, nên cũng mang chúng đi góp vui cho đỡ buồn(cười). Thật bất ngờ là chúng cũng biết trả ơn tôi bằng giải thưởng cơ đấy (cười lớn). Nhưng phải nói lại là, tôi viết thơ không vì giải thưởng, hay vì bất kỳ một định hướng nào.

Như Quỳnh de Prelle: Một ngày bình thường của chị? Chị dành thời gian viết như thế nào? 

Thùy Linh: Như tôi đã nói là tôi chỉ viết khi thật sự muốn viết. Nên dù rảnh mấy mà không muốn viết tôi cũng không viết, còn nhiều khi bận tối mắt hay đã đắp chăn đi ngủ rồi mà chợt có điều thôi thúc, tôi cũng phải chắt thời gian ra mà viết. Có lẽ đó là những lúc bị “hành”. Nhưng với người cầm bút, những khoảnh khắc “bị hành” ấy rất vi diệu và hạnh phúc, cần chớp lấy vì chắc nó không nhiều đâu.(cười) Đối với công việc dịch thuật, tôi vẫn làm đều đặn tới khi thấy mệt thì nghỉ.

Như Quỳnh de Prelle: Gia đình chị có ủng hộ con đường văn nghiệp không, giải thưởng có làm cho họ vui hay hy vọng ở chị trở thành một người nổi tiếng?

Thùy Linh: Thật ra đối với tôi, việc gia đình không ngăn cản đi theo con đường này đã là một niềm may mắn lắm rồi. Tôi biết ơn họ vì đã tạo điều kiện cho tôi được sống với đam mê, ý thích của mình; chứ việc ủng hộ tôi chưa dám chắc, vì thường những người yêu thương mình luôn muốn mình an yên, mà văn chương là con đường nhọc nhằn. Dầu gia đình không ai theo văn chương cả nhưng họ cũng vui vì tôi có chút thành tựu nhỏ. Còn việc họ có hy vọng tôi trở thành một người nổi tiếng không thì tôi cũng không biết nữa. (cười)

Chúc nhà thơ Nguyễn Thị Thuỳ Linh luôn tràn đầy năng lượng và cảm hứng sáng tạo. Mong chờ tập thơ đầu tay của chị trong năm 2017 này. 




Thursday, January 5, 2017

Thơ của Miên Di, Giải thưởng Văn nghệ Quân đội

Tháng 7 này
 
Tháng 7 này trên những chuyến xe
Có mùa Vu lan bao người về với mẹ
Con đã làm cha trong thành phố
Nhà mình vắng những về thăm
 
Tháng 7 này mùa Vu lan qua điện thoại
Con thành xa khi mẹ vẫn còn gần
Mái bếp dột đã thành quen với mẹ
Tiếng gà quê thành quạnh quẽ những trưa chiều
 
Tháng 7 này trên một chuyến xe
Có nải chuối quê, có tuổi già của mẹ
Con bận làm cha trong thành phố
Nên mẹ mang tuổi già đến để con thăm
 
Mẹ ru cháu bằng lời ru con lớn
Ru nết khóc khuya mẹ bảo rất giống mày
Con dễ ngủ trong lời ru chưa lạ
Tháng 7 này mẹ mang giấc ngủ đến cho con
 
Thành phố không tiếng gà quạnh quẽ
Tiếng còi xe thon thót giật mình
Căn chung cư không khoảng sân rau cỏ
Mẹ bên con, mà nỗi nhớ con cong thành nếp những buổi chiều
 
Tháng 7 này, biết còn nữa tháng 7 không
Buổi chiều như có gì muồn muộn
Mẹ rửa bát tiếng lanh canh còn thân thuộc
Tháng 7 này, mẹ mang mẹ đến để con thăm.

 
9291575e8e93cb325c7d74b2ef3617c1

Bạn
 
Nhiều lúc tưởng chẳng còn ai là bạn
loay hoay đành phải gọi chính tên mình
 
Ừ thì sống ai mà chẳng khổ
kẻ khổ tiền
người khổ chuyện công danh
mày có nhớ cái thằng hay ghẹo gái
nó lấy cô bé tao yêu
giờ nằm lạnh lẽo trên đồi
thương vợ nó mà tao không dám tới
sợ bạn mình sau cái chết vẫn còn đau
 
Đời vậy đó!
dài bao nhiêu cũng ngắn
có thương nhau đôi lúc phải lạnh lòng
biết bạn khổ mà không đành giúp
vì mẹ tao còn khổ gấp trăm lần
 
Ừ vậy đó!
nhiều khi như người cụt
dù hai tay vẫn quần quật với thường ngày
bạn bè vắng nhau cơn hoạn nạn
vì tối về còn phải bế con
vì phải sống như thằng chết nhát
vì phải hèn để tròn bổn phận làm cha
 
Tao vẫn nhớ cái thằng nhiều khát vọng
mớ ước mơ dễ phủ được thế thời
giờ phụ vợ bưng nỗi buồn xó bếp
thương nó cái nhìn vẫn khao khát như xưa
 
Đám bạn mình cũng có đứa làm quan
cũng xông xênh
cũng người đời nể sợ
vậy mà vẫn thấy thương đời nó
bà Sáu, chú Tư ngày ngày gọi chửi
đẽo gọt lương tâm để vừa với chỗ ngồi
 
Rồi có đứa anh hùng nộp thuế
bỗng hóa tội đồ khi lỡ chuyến kinh doanh
chết giữa chiến chinh có sử xanh làm bia mộ
chết giữa thương trường tù ngục ghi danh
 
Nhiều lúc tưởng chẳng còn nhau là bạn
tao với mày chỉ là bữa cà phê
vài ly rượu dốc nỗi buồn cho cạn
không sao đâu!
mày hãy làm bạn với chính mày
tao cũng thế
còn chính tao là bạn
hiểu cho nhau điều này
để còn là bạn của nhau.
 
216

Vợ đi lấy chồng
 
Sau ngày khô rũ
Phố xá lại diện lên những bóng đèn
Sau một lần khô rũ
Em lại diện lên
 
Để quên đi những buồn vui trong căn nhà chỉ còn bình hoa
                                                                             trống rỗng
Bàn chải đánh răng vẫn một đôi trong chiếc ly chưa vỡ
Chỗ nằm lảng vảng hạnh phúc đã qua
Anh không dọn đi nổi hạnh phúc ngổn ngang trong
                                                                         căn phòng cũ
Khi va phải thói quen còn nhau
Đau điếng
 
Sau lần khô rũ
Em rồi cũng diện lên
Khoé môi cũ cười niềm vui mới
Khoé mắt cũ khóc cơn đau khác
Như tên chồng em bây giờ
Không phải tên anh
 
Anh vẫn khen nồi cá kho ngon
Khi em lỡ tay nhiều muối
Mà em mặn chát cả đời
Vì lỡ lấy anh
Để món ăn từng nấu cho anh, giờ nấu cho người đỡ đần em
                                                       điều anh không làm được
Có việc nào
Em bỗng nhớ anh không?
 
Dạy con học, chạnh lòng khi gặp phép chia không chia hết
Của cải lẻ, mình nhường nhau chẵn được
Nhưng không chia hết 7 ngày
Cho hai người đón con một lúc
Không thể chia mỗi lần con khóc
Cho cả hai cùng lúc dỗ dành
 
Có thay vui buồn thì vẫn phải buồn vui
Yêu từng cơn
Mà bên nhau cả cuộc
Hạnh phúc khi buồn là hạnh phúc rất vui
Em nhặt rau thấy phần bỏ đi, giống mình yêu thương nhau
                                                mà chỉ chọn lấy phần nào tươi tốt
Nên những ngày tháng chan chung nồi canh xanh ngọt
Mà riêng nhau ua úa nỗi niềm
Mình đã bỏ nhau khi còn chung bữa
Nhặt dần vui ra khỏi nỗi buồn
 
Vắng em sau yên xe
Anh chuyện trò với khoảng trống
Chiếc áo em mua anh vẫn còn đang mặc
Tấm áo bền hơn vết rách
Anh diện lên mình hạnh phúc đã qua.

 

Chùm thơ của Hồ Minh Tâm, giải tư Cuộc thi thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội

Nhìn về phía gió
 
Linh ứng điều gì chẳng rõ
tôi nhìn về phía gió
những dấu hỏi treo ngang đường chân trời
lung linh - nắng
lung lay - nắng
khô dần
 
Biển & những câu thơ - lâu lắm rồi
những con tàu nhớ tiếng buồm xưa & những câu thơ - lâu lắm rồi
bãi cát dài đêm trăng no mắt em ... & những câu thơ - lâu lắm rồi
con còng gió giật mình
hốt hoảng trốn nhờ hang lạ
đầu sóng ngàn đời xưa
đầu sóng ngàn đời nay
đầu sóng ngàn đời sau
trắng loá
 
Tháng ba
tôi ngồi với Lâm
tôi ngồi với Diên
tôi ngồi với trái tim con tàu 628
tôi ngồi nghe tiếng đất liền tiếng biển
 
Họ kể:
Đêm là tàu. Cũng bình thường thôi anh. Trước biển. Nhiều khi ta
                                                                                                    bất lực mù loà
vợ là đêm trăng xa
ngày là tàu. Cũng bình thường thôi anh...
mẹ cha quê nhà là ngày gần gió bão...
cũng bình thường thôi anh
cũng bình thường thôi anh
thấm tháp gì đâu giữa lòng sâu biển nén chịu trăm điều
...
giữa trùng khơi, con tàu là con ngươi của sự thật
giữa trùng khơi, con tàu như một kí tự nhỏ nhoi giữa ngàn
                                                                                                      trang sách
...
628
hai ba bốn năm sáu bảy chủ nhật
981
hai ba bốn năm sáu bảy chủ nhật
những con số cũng bình thường,
                                                và dễ đọc
như mười ba lần căng da đỏ bầm vết xước
cắn răng ngậm biển vào trong
...
Cũng bình thường thôi anh
cũng bình thường thôi anh
 
Chúng tôi cười...
cửa sổ - nắng
long lanh
 
Biển tháng ba linh ứng một điều gì chẳng rõ
tôi tiễn linh hồn mình về với biển
gió khơi ùa vào
mùi xanh xanh.


1341688948617774463 574 0 

Mẹ của đêm
 
Mười năm hai mươi năm ba mươi năm
thiếu phụ mang đêm ra đầu làng
đợi

rụng từng đốt chân

cây đa đầu làng đã rụi
tấm khăn tro đôi mắt tro
đường làng từng đêm cháy
lắt lay người
khói bay
 
Chiến tranh qua lâu trên đầu đến thời rụng tóc
con trai độc nhất quả phụ anh hùng
từng đêm nghe
từng đêm biết…
nhưng con không về
mẹ chỉ là mẹ của đêm
đêm
 
Họ ồn ào
gian nhà mẹ
lặng câm

mẹ vẫn cứ mang đêm ra đầu làng
mẹ vẫn cứ mang đêm ra đầu làng
mẹ vẫn cứ mang đêm ra đầu làng
đợi
 
Đến khi đêm mang mẹ đi…

Chùm thơ của Nguyễn Thị Thuỳ Linh được giải nhì Cuộc thi thơ trên tạp chí Văn nghệ Quân đội

Khi anh nói yêu em
                                                                                               
Thế giới sẽ tốn thêm ít nhất một ngôn từ, một cách biểu hiện
Màn đêm mất đi ngữ nghĩa của màn đêm
Nó là sự cháy hết mình của nến
Em cuốn theo cục sáp sáng đến tận ngón chân
Càng thấy rõ ngoài kia thật tối
Một cô gái ôm khuôn mặt lát đầy gạch vỡ
Một bóng người cô đơn sợ hãi chạy qua mình
Một con mèo non yếu ớt đòi ti mẹ trong bãi sậy
Một bó hoa đã tắt thở trên tay
(Xin anh hãy để nó được thở trên mặt đất
Hơn là bị cắt ngang thân cho những điều lãng mạn)
Dẫu gì, em cũng không trong bằng giọt nước
Đừng nâng em cao hơn những cánh hoa
Ở đâu đó khu rừng của niềm tin
Đang bắt giữ những tên đốn hạ
Thôi em tự trấn an mình, hãy để nó mọc lên xanh tốt
 
Nụ hôn anh rảy nước thánh lên những ánh trăng
Em thấy mình mắc nợ vầng mây chưa kịp sáng
Tình yêu lấy đi nhiều hơi thở trong vũ trụ
Em chỉ muốn đơn giản như côn trùng
Yêu nhau bằng những khúc ca như lời than thở
Để không làm rã rời những kẻ không yêu
Để không làm bóng tối bị dồn lên sau lửa sáng
Hãy tắt nến và chôn hoa vào bình nước!
 
Ước gì anh nói yêu em mà thế giới vẫn vẹn nguyên như trước
Em tựa vào anh thành lá bạc hà…

yeu

 

La La bé bỏng
                         
                                                                      
La La đã thành con bướm nhỏ
Mặt đất tràn về những dấu chân đầy hoa
Dòng sữa non thấm giữa bình minh trắng
Lịm thơm cả cánh tay cò
 
La La đã thành con bướm nhỏ
Ôm ngọn cỏ mềm đong giọt sương
Tiếng chim hót gỉ gi có lọt qua những ô cửa đất
Giữa hồi chuông mê sảng học nói cười
 
La La đã thành con bướm nhỏ
Nấp sau bức màn mùa thu
Những cơn gió cũng trở nên ruột thịt
Mẹ tới đây rồi! Mẹ tới đây…
 
Căn phòng khum lại thành nôi
Những bà mụ tóc bạc bình yên đưa đẩy
Chiếc giường cũ rung rinh, mẹ cũng rung rinh
Ánh trăng bạc sôi trên chén thuốc
 
Mẹ tựa bức tranh vừa được quét sơn màu lành lặn
Tiếng bào thai như trái chín ru cây
Gió bắt rễ dọc chân tường và say đắm hát
Khúc huyền diệu dâng lên, phút chốc:
Những ngôi sao gối đầu lên nách lá
Những bầu ngực vươn trời lồng lộng
Những khúc ruột nối vào nhau vô tận
Những quả tim khô bắt đầu róc rách chảy
Những bàn tay mọc ngón và đan siết…

thu20113810482918 5

 
Mở cửa ngục

                                (Thương tặng...!)
 
 
Thế gian là cái ngục sáng một nửa
Đôi cánh con nhỏ xíu đậu trên vai mẹ
Thật trong suốt nhé! Sau cánh cửa
Đàn kiến tha đi những nỗi đau kéo dài lấp lánh
                                                                tới mùa thu bên kia
 
Bàn tay mẹ vàng hơn lá
Đỡ lấy con! Không một hình hài
Kia cánh cửa tự do rồi. Hương hoa đừng chậm trễ
Chung một bầu trời. Một tình yêu ngũ sắc. Một chông gai
 
Chiếc cánh con thổi gió. Toát ra mùi bánh sữa
Con cá bột hai vây non bơi vào dòng tóc mẹ
Mùi hương nào nâng con chơi khắp mùa thu này
Thế gian là cái ngục sáng một nửa
 
Con mở nốt cánh cửa tối trên gương mặt mẹ
Có tiếng kêu của một vũ trụ buồn
Có loài hoa mẹ chưa bao giờ thấy được
Có trăm ngàn câu hát đang hoàn thiện của con!
 
Ngục sáng rồi. Mẹ làm cây đuốc lớn
Dắt con về cái lò sưởi của nhân gian
Cánh vây con mỏng trên vai mẹ ấm dần và trong vắt
                                                                                        Vu Lan này
Mẹ đeo chiếc lá vàng trước ngực.

 

Wednesday, January 4, 2017

Búp bê song sinh tới Trái đất, Nguyễn Thị Thuỳ Linh chuyển ngữ






 






Maivanphan.com: Nhà xuất bản Hội Nhà văn VN vừa ấn hành cuốn sách viết cho thiếu nhi "Búp bê song sinh tới trái đất" của Nhà văn Milutin Đuričković (Cộng hòa Serbia), do Nhà thơ Nguyễn Thị Thùy Linh dịch từ bản tiếng Anh. Xin trân trọng gửi tới quý bạn đọc bài giới thiệu của tôi in trong cuốn sách này.

Maivanphan.com: Publishing House of Vietnam Writer’s Association have just published the children book called “The Twin Dolls to the Earth” of Writer Milutin Đuričković (Republic of Serbia), translated by Poet Nguyễn Thị Thùy Linh from English. Sincerely give to the esteem readers my introduction in this book.






Người dịch cuốn sách này là nhà thơ Nguyễn Thị Thùy Linh, sinh năm 1991, hiện sống và sáng tác tại TP. Hải Phòng. Cử nhân kinh tế - Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội. Cô từng đoạt Giải lục bát trăng Vàng (giải cao nhất) năm 2016 trong Cuộc thi thơ Lục Bát "Tổ quốc và Đạo pháp" do Báo Người Cao tuổi phối hợp với Website lucbat.com tổ chức, dưới sự bảo trợ của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Nguyễn Thị Thùy Linh từng dịch nhiều thơ nước ngoài từ bản tiếng Anh sang tiếng Việt và đăng trên các báo văn học trong nước. Đó là thơ của các nhà thơ Raymond Keen (Hoa Kỳ), Lars Vargö (Thụy Điển), Rati Saxena (Ấn Độ), Metin Cengiz và Müesser Yeniay (Thổ Nhĩ Kỳ), Fethi Sassi (Tunisia), Asror Allayarov và Makhfuza Imamova (Uzbekistan), Dimitris P. Kraniotis (Hy Lạp)… Ngoài ra, cô còn dịch một số truyện ngắn của hai nữ nhà văn Mỹ Kate Chopin và Louis May Acott với bút danh Linh Đan.

Xin nồng nhiệt chúc mừng Nhà văn Milutin Đuričković đã đưa "Búp bê song sinh tới trái đất" đến với bạn đọc Việt Nam qua bản dịch của Nhà thơ Nguyễn Thị Thùy Linh!

Hải Phòng, 5/12/2016
M.V.P

Tuesday, January 3, 2017

Thơ Huỳnh Trọng Khang


Mọi

Xin chào em trung hoa mọi nhỏ
Tóc em rào nát con đường đỏ
Mười năm tình hận chiếc dao vàng
Tha phương theo uất lệ trường giang

Xin chào em việt nam mọi vàng 
Mắt em cánh én bóng thiên đàng
Trăm năm lầm lỡ sầu bùn đất
Đoạn trường hải vân buồn hiu hắt


Nam mô a di đà phật
Tây phương chim quạ kêu trăng ẩm
Ba ngàn thế giới chiến tranh hoài
Di lặc cười vang rượu đã say
Sóng từ biển bắc xô dâu bãi
Cá kình giẫy chết dòng huyết hải
Đa đoan em việt nam mọi vàng
Đa hận em trung hoa mọi nhỏ
Chia ly đơn côi phai phôi thôi
Ràng rịch ngàn năm sợi xích rối


Ba triệu con mắt đều vô thanh
Cô đơn em nhân loại mọi xanh



Bầy cừu bay ngang thành phố

Cái đêm chiến tranh cưỡng hôn thành phố
Em xoã tóc đi trên đường
Chân trần đạp miễng
Qua một đêm tóc anh bạc trắng
Thẩn thờ điếu thuốc cháy tàn
Kim giờ và kim phút
Cắt thời gian thành từng khúc
Anh tan như thỏi bơ
Đàn cừu bay ngang thành phố
Ta dắt nhau về tiền sử
Tìm lối động thiên thai
Mình bên nhau mãi mãi
Mình chăn bầy cừu bay ngang thành phố
Thành phố bị làm nhục
Tuẫn tiết trôi sông dài
Tay em hoang vu tiền kiếp
Mình ôm nhau kể lể những bi kịch
Sắm vai nạn nhân
Em khóc bằng tim anh
Trái tim dây cót
Sau mưa bom bầu trời lanh lãnh hót
Mắt em dài hư không
Ta đi suốt mùa đông
Chân trần ứa máu
Đi cho hết phận con người
Để một ngày lại về
Làm đàn cừu bay ngang thành phố



Allons enfants de la Patrie

Elsa ơi giờ này em ở đâu
sau thời khắc ấy anh đi tìm em
tiếng bom khua trong vỏ lon rỗng
thằng bé lắc đều, lắc đều

Đường Promenade des Anglais chảy máu
em kêu lên như con thú bị thương 
tóc cào sướt mặt trời
sau thời khắc ấy anh đi tìm em
giấc mơ nát dưới bánh xe
cô bé đội mũ nồi
hát nghêu ngao
C’est toi qui emportes mon coeur au firmament

bức chân dung chưa hoàn thành
xé toan đôi mắt
ai vuốt hộ dùm em đôi mắt
đôi mắt Elsa
đôi mắt hận thù
ai đã xóa tên em trên mặt đất
cái ngày chiến tranh lãng quên
cái ngày mà ta đã mất
có ai đó vừa hát lên
Allons enfants de la Patrie
  • - Hãy tiến lên hỡi những người con Tổ quốc
anh nghe thành
éclata en larmes enfants de la Partrie
  • - Hãy khóc lên, hỡi nhừng người con Tổ quốc


Vĩnh biệt Lenine

Tượng Stalin phơ nắng giữa hồng trường
đổ mồ hôi nhìn đám đông đồi đập bể đầu bức tượng
Mát-cơ-va lờ mờ khói tỏa
khi đàn sếu tan tác bay qua
ai đi nhặt lá vàng
ai bảo tránh đụng vào cây
ai diệt Phát-xít
ai hất Nga hoàng
lá cờ rủ trên điện Kremlin 
anh Ba-chốp lặng nhìn đồng chí
tàu đã chìm, tàu đã chìm, tàu đã chìm
anh Ba-chốp lặng nhìn sao trời
phi hành gia trên vũ trụ mỉm cười
chào vĩnh quyết Liên Xô ngày cuối
miệng hô vang: "Stalinist muôn năm"
cho nổ tung phi thuyền thành hạt bụi
thành vì sao
thành huyền thoại
anh trung úy phập phồng lo sợ
chờ chỉ huy phát lệnh tiến công
nhưng không có lệnh nào
giờ khởi hành không bao giờ đến
ta đã mất màu cờ nhưng ta được nhân dân
vẫn vẹn đàn sếu bay qua
vẫn Mát-cơ-va sương mờ khói tỏa
vẫn những tâm hồn dịu dàng quá dịu dàng không chịu nổi
bảo mọi người tránh đụng vào cây




Bài ca của lũ nhu trùng

Bờ ngực em ngập tràn bóng tối
Hát bài ca về một thời để yêu
Khi lũ nhu trùng đang đục khoét giấc mơ không màu
Chúng ta nhìn nhau
Như con thú bị thương, như đứa trẻ lần đầu thù hận
Ngoài kia phố dài bất tận
Những cột đèn im lặng
Những ngã tư chằn chịt chằng lối về

Ngón tay em xoắn xuýt đê mê
Trên những lọn tóc anh nóng hỏi
Chúng minh nhìn nhau không nói
Đó là đêm cuối cùng của mùa đông
Ngoài cửa sổ một vầng trăng đang vỡ
Ta uống kỷ niệm một thời lầm lỡ
Và say sưa trong điệu nhạc điên hồn

Anh muốn trau em một ngàn nụ hôn
Một ngàn vòng tay
Một ngàn ánh mắt
Dâng tặng em cả trời và đất
Dâng tặng em biển động cuối trùng xa

Nhưng em ơi anh là đứa trẻ chết già!
Xuân chưa chín mà hoa lê đã héo
Trời đất rộng mà lòng anh chắn nẻo
Biết đâu về tường lớn vách cao

Bên rìa vực nỗi đau
Bờ ngực em dạt dào bóng tối
Bờ ngực anh gập ghềnh đá sỏi
Hoang mang xô vỡ vào nhau.



Thơ cho tuổi hăm hai

Sắp sang tuổi mới rồi
Ngày ngắn, tháng ngắn, đường ngắn
Chỉ có tóc là cứ dài
Thêm đứa bạn vừa xuất ngoại định cư sáng nay
Đứa thứ tám trong năm
Và người thứ bao nhiêu trong 9 tỷ con người
Bảo nước Việt Nam không sống nổi
Phải đi thôi
Em trở về nhà tóc rối
Nhìn anh lắc đầu
Chỗ thứ 20 từ chối
Ghế ấy giá 500
Làm sao mình lo nổi
Anh ôm em chẳng biết nói gì
Hay là chúng mình đi
Mỹ, Úc, Cananda, Đại Hàn, Nhật Bổn…
54 di dân
75 di tản
Bây giờ di gì không biết nữa
Tháng tháng ngày ngày lẵng lẽ nối nhau đi
Phố mỗi ngày thêm chật
Vòm lá me xanh khói bụi đốt tàn
Xe mỗi giờ thêm kẹt
Người ta giết nhau vì một cái liếc nhìn
Bao ngày rồi không dám ăn cá
Thịt heo giả thịt bò
Sói giả người
Người giả thánh
Thánh giả ma cô dắt gái giang hồ
Ở lại nhe em, làm nghề gì lương thiện mà sống
Anh sợ rồi mình cũng giống như ông cụ mình hay mua đồ ăn cho
Héo úa ngồi bên vệ đường
Tay run run vé số
Tiếng rao đứt nghẹn
Rồi một ngày mưa trượt chân ngã đập đâu
Thế là hết một đời
Một đời vô ít
Sách vở giờ vô dụng hết
Chỉ đủ đốt sưởi một đêm mưa
Giá mà anh hút được thuốc
Giá mà anh không sợ chai rượu này vơ
Giá như em đừng có xa vờ
Anh sẽ ôm em cho thật chật
Sẽ nói về một thời để yêu và một thời để mất
Sẽ vạch mặt từng thằng nham hiểm nhất
Ăn của dân hút đến tận xương
Sẽ không nói chuyện về chiến tranh
Ôi chiến tranh muôn thuở
Thời nào cũng chiến tranh
Thằng Trung Quốc khốn nạn
Nhưng đừng chửi nữa
Khuôn miệng này là để hun anh
Anh muốn đêm nay qua thật nhanh
Cái đêm trường nô lệ
Nô lệ tư tưởng, nô lệ tư duy
Nô lệ cả tình yêu mù quán
Sắp 22 rồi
22 năm sống trên đời
Lần đầu tiên thấy bớt yêu nước mình một chút




Friday, December 30, 2016

Nữ tính trong ngôn ngữ của Nhã Ca


Bài viết của Đặng Tiến
Người đàn bà trong thơ là một huyền thoại: thơ trong người đàn bà là một huyền thoại khác. Thơ của người đàn bà là huyền thoại của huyền thoại, là thơ của thơ. Cách đây đúng năm năm, cũng vào mùa này, Nhã Ca đến với người đọc một cách bất ngờ, nhẹ nhàng như người đẹp trong tranh. Người ta nghe không gian xôn xao trong cái chớp mắt trầm buồn đến mênh mông của người con gái Huế:
Đời sống ôi buồn như cỏ khô
Này anh, em cũng tợ sương mù
Khi về tay nhỏ che trời rét
Nghe giá băng mòn hết tuổi thơ 
(Hiện Đại số tháng 4/1960)

Người ta nghe ngân vang chân trời xanh trong tiếng hát một loài chim từ thiên thu bay đến. Một cánh chim vành khuyên vượt mông mênh, ngậm tình người bay đi tìm vĩnh cửu. Nhã Ca đã đậu lại giữa những hoài nghi, e dè, ngộ nhận của trần gian.

Và thoạt tiên, người ta yêu thơ Nhã Ca vì đó là thơ một người con gái. Năm năm sau, khi tập thơ Nhã Ca Mới ra đời, người đọc mới biết yêu thơ Nhã Ca vì thơ Nhã Ca hay.
Những bài thơ đầu tiên của Nhã Ca đã là thơ của một người đàn bà nhiều hơn là của một người con gái, đã là thơ của
Những nàng tiên đến tuổi giã thiên đường

Lời nói đầu tiên mang u uất của lời nói cuối cùng, một lối nói giận hờn, chua xót:
Thôi trả cho giòng sông tối đen
Trả cho người đó nỗi ưu phiền
Còn đây chút tủi hờn thơ dại
Rồi cũng xa vời trong lãng quên

Tại sao lại trả? Có trả vì có trao, có trao thì mới trả. Đó là niềm u ẩn một đời con gái vừa ăn năn, vừa hờn giận:
Tôi trót dại tin lời trao tất cả
Đâu biết người mang nửa dạ yêu tinh

Trao cho ai và trả cho ai? Trao trả cho người, chữ người phiếm chỉ, vô danh, chữ người lạnh lùng hờn tủi, chữ người sần sùi của lãng quên, chữ người nhầy nhụa của ký ức:
Tên người ư, đã trở về bóng tối
Tôi đã vô tri giữa tháng năm dài
Và mỗi bận có một người nhắc lại
Tôi cố tìm nhưng chẳng nhớ tên ai

Nhưng người không tên trong bóng tối cũng thừa biết đó chỉ là lời giận dỗi, đó chỉ là tiếng nói tự ái của đàn bà, một lối dối lòng cho dịu bớt thương đau.
Kinh nghiệm mất mát ray rứt đó khiến người đàn bà giận hờn khôn khuây. Giận là khi có lý do, hờn la không có lý do hay lý do không chính đáng, hay lý do chính đáng mà không nói được nên lời, không giãi bày được với lương tâm. Và từ những ê ẩm của thể xác, những ăn năn, gậm nhấm của tuổi thơ, Nhã Ca ý thức sự mong manh, vô nghĩa của thân phận đàn bà bước một bước qua hết thời con gái. Rồi cũng từ bước đó, Nhã Ca biết sự bất lực của đàn bà, biết quyền năng nữ sắc chỉ là quyền năng của một dụng cụ.
Tự do đối với người đàn bà chỉ giới hạn trong thể xác, và trong một phút giây nào đó của một thể xác.
Tôi sống tự do trong thân thể mình.
Rồi người đàn bà tự mỉa mai những đớn đau ê chề, những hèn mọn của số phận:

như tiếng nước no hơi
hò reo trong bình thủy

Nhã Ca Duy Thanh vẽ
Nhã Ca
Duy Thanh vẽ
Niềm bí mật chất chứa trong mỗi người đàn bà không nói lên được thành lời vì tính cách phi lý, vô nghĩa của nó. Đó là một sự thật nằm ngoài lý luận và sáng suốt, ngoài sự kiểm soát của ngôn ngữ, đó chỉ là một sự thật trong một lúc nào đó:
Hiểu gì đâu cho cam
Mình tôi sao chịu nổi?

Người đàn bà chuyển bí mật đó vào cái bào thai:
Nghe đó anh, con đầy tiếng nói
Sự thật kìa, con nói đi con
Nói đi con, nói giùm mẹ với…

Hãy nói giùm người phụ nữ muôn đời sự thật ê chề, rách nát của bản năng. Hãy hiểu giùm người đàn bà muôn thu những bóng tối trong tiềm thức. Tiềm thức thể hiện bằng những biểu tượng. Một biểu tượng hay nói cho giản dị hơn, một hình ảnh là phản ảnh trong ngôn ngữ của một bản năng vô thức. Và chỉ những hình ảnh bị lạm dụng thành những biểu tượng đó mới hé mở bóng tối của tiềm thức. Ví dụ biểu tượng mặt trời trong thơ Nhã Ca. Tập thơ bắt đầu bằng một vừng rạng đông
Chớ nhìn tôi bởi vì tôi đen
Mặt trời đã nạm cháy tôi
(Salomon, Cựu Ước)

và kết thúc cũng bằng tia lửa thái dương
Mặt trời mọc, mọc rồi, mọc rồi
Mặt trời mọc mà sao mẹ khóc

Thái dương là biểu tượng của nam tính, cũng như Thái âm – mặt trăng – là biểu tượng của nữ tính trong tiềm thức của nhân loại từ thời thượng cổ. Từ bà Huyện Thanh Quan, Hồ xuân Hương đến Nhã Ca, ta thấy nhiều ánh nắng, như một khao khát như một đòi hỏi nam tính
Hòn đá xanh lăn về phía mặt trời
Cây trái cũ kiếp sau này có nhớ
Những mặt trời tan vỡ kín trong tôi

Mặt trời là khối lửa rực rỡ, chói lọi, tượng trưng cho quyền lực, chủ động, lý trí sáng suốt, sự bền vững, điều hòa của nam tính. Trái lại trăng khi tròn khi khuyết, khi có khi không, chỉ sáng bằng ánh sáng thụ động của mặt trời phản chiếu, lại xuất hiện đúng với chu kỳ kinh nguyệt của đàn bà, là tượng trưng cho nữ tính. Trong thần thoại tất cả các nước, hình ảnh của vầng Thái dương, Logos và vầng Thái âm, Eros đều có một giá trị biểu tượng giống nhau.
Một sinh vật hiện diện một cách vừa thường xuyên vừa bất ngờ trong Nhã Ca là Ngựa qua lời thú nhận bầy ngựa dạy nàng hung hãn. Hung hãn vì chẳng những là ngựa thường mà có khi là ngựa vằn nữa:
Rồi đêm ôm chiếc bóng ngựa vằn
Co bốn vó sãi đều hết năm

Ngựa biểu hiệu những bản năng cuồng nhiệt của thể xác, chuyên chở những đòi hỏi đen tối nhất, khó kiềm hãm nhất, như những bản năng của nữ giới. Ngựa cuối cùng còn là biểu tượng của người mẹ, như con ngựa thành Troie.
Trong thơ Nhã Ca, bạn của Ngựa là con Rắn
Con rắn hồi sinh nỗi buồn đen trườn mình
Trong khu vườn nước mắt và tội ác.

Rắn là biểu tượng những cám dỗ của tội lỗi, rắn thuộc về cõi âm sống về đêm, trong các hang hốc nên gần với nữ tính, tượng trưng cho dục vọng như truyện Thanh Xà Bạch Xà trong cổ tích Á Đông, chuyện rắn lừa gạt Eve phạm trái cấm trong vườn Địa đàng.
Tra vấn những biểu tượng trong thơ Nhã Ca, nhất là những biểu tượng nói lên chiều sâu thăm thẳm trong đêm tối của người đàn bà, là cốt để tìm thấy đằng sau giá trị nghệ thuật thuần túy, còn có một thực chất nữ tính sâu xa trong tiềm thức của tác giả. Cái giá trị của thi ca không phải ở cái nội dung vô thức đó, nhưng sự thành thật chân chính sẽ bảo đảm cho giá trị vĩnh cửu trong ngôn ngữ của nàng.
Những hình ảnh khác như khu vườn, người điên khua thanh la… đều rất phong phú. Chúng tôi chỉ xét qua vài hình ảnh mở rộng tâm hồn Nhã Ca. Như hình ảnh cây cối. Ba bài thơ đầu tiên đăng trên Hiện Đại, những bài thơ tiên khởi giới thiệu Nhã Ca, bắt đầu bằng những con đường râm mát.
Đường xa sầu tiếp với cây chiều…
Chợt tiếng buồn xưa động bóng cây…
Tôi làm con gái
Buồn như lá cây…

Cây tượng trưng cho tình mẫu tử, cho khả năng sinh sản. Trong tiếng La-tinh hầu hết những danh từ chỉ cây cối đều là giống cái. Đọc thơ Nhã Ca luôn luôn bắt gặp hình ảnh của người mẹ, khi hiền từ, khi sôi nổi, khi đồng hóa với con người, khi lại tách rời. Hình ảnh ấy linh động và cảm động, tạo sự trìu mến quấn quít giữa các dòng chữ. Hình ảnh cây cối cũng có một địa vị đặc biệt trong thơ Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan. Cũng như những hình ảnh đèo, dốc.
Xe đi hút lũng than đèo
Rừng thưa dốc lạnh hơi chiều rút qua

Dốc trái với bằng, là độ nghiêng của nội giới, từ hình ảnh tới tâm linh, dốc là khuynh hướng: dốc đòi hỏi con người phải chọn lựa hoặc lên hoặc xuống không thể lưng chừng. Cả lên lẫn xuống đều khó khăn đối với người đàn bà, họa hoằn lắm mới có một Võ Tắc Thiên hay một Quan Âm Thị Kính. Trong mỗi người đàn bà đều có một Quan Âm và một Võ Hậu tương tranh, bước lên một bước là Thiên Thần – dù chỉ là thiên thần xó bếp, bước xuống một bước là cầm thú – dù là cầm thú chính chuyên.
Đèo là điểm tương giao giữa hai chiều dốc, bên này là lên, bên kia là xuống: vị trí chọn lựa đó ngắn ngủi, và quyết định, không mấy khi dễ dàng. Một người đàn bà chỉ có hai quả hồng, hoặc ngọt hoặc chát; “quả ngọt phần chồng” là chính chuyên, ngược lại là bất chính. Và chọn lựa, nói là tự do, kỳ thật là nô lệ, nô lệ một nửa của mình. Một khi lỡ chọn thì “mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo”. Nói là muốn trèo, kỳ thật là phải trèo, hoặc trèo lên, hoặc trèo xuống. Cái dốc đạo lý, cái dốc tâm lý, cái dốc sinh lý, lại bao nhiều đèo dọc đèo ngang, bao nhiêu thầm kín người đàn bà đều trải phơi ra đó.
Đem những thầm kín linh cảm được trong thơ một người đàn bà mà giải thích, thì những thầm kín không còn thầm kín kia sẽ mất hết nữ tính quyến rũ. Thực chất sống động của thơ Nhã Ca sẽ phải đứng yên như tượng; tiếng nói Nhã Ca có thể cứng lạnh vì bị mất hết tương giao. Trong khi đó, thật ra, ngôn ngữ của nàng là một tiềm năng sung mãn trườn mình như rắn. Nói đến thơ, cuối cùng phải nói đến tiềm năng đó.
Vì nghệ thuật không phải là cái mà nghệ thuật diễn tả hay có thể diễn tả. Thơ không phải là những ý tưởng cũng không phải những khuynh hướng trong tiềm thức. Thơ trước hết là thơ. Và thơ gọi được là thơ không còn là thơ nữa. Những cái không gọi được là thơ thì không bao giờ có thể gọi được là thơ.
Cái gọi được là thơ trong Nhã Ca, trước hết là một không gian
Sân chiều chao nhẹ dăm tờ lá
Và khói sương về cuộn cánh song

Buổi chiều xa xưa ở đây không còn hiu hắt như trong Huy Cận hay đằm thắm như trong Xuân Diệu. Buổi chiều chao nhẹ, chao thật nhẹ như trong Nhất Linh. Những buổi chiều mịn màng, óng ả, mềm mại, dìu dặt đặc biệt trong thơ Nhã Ca mới có. Cũng như đêm của người đàn bà nồng thơm da thịt, chập chờn giữa êm dịu của hư vô và đê mê của cảm giác:
Hơi thở mùi hương nụ cười bóng lá
Đêm bao dung đêm hiền hòa mới lạ
Đêm ngửa bàn tay đêm động làn môi
Đêm dịu dàng đêm ngọt giấc mơ tôi
Đêm trên núi cao đêm trong hồn nhỏ
Đêm thơm nồng nàn mùi hương trí nhớ

Thơ Nhã Ca dày ải trần gian vào biên giới hư ảo của đê mê, thơ Nhã Ca là trầm luân trên từng sợi lông tơ, là thiên thu xóa nhòa trong chớp mắt. Đọc Nhã Ca là linh cảm cả hư không, trong từng thớ thịt, lẫn thể xác trong từng ý niệm vu vơ. Thơ Nhã Ca vừa mời gọi, vừa ôm ấp vừa quyến luyến. Thơ Nhã Ca là lối làm quen ở phút giã từ, là lúc vụt quên khi vừa sực nhớ. Vẻ đẹp Nhã Ca thật như một giấc chiêm bao, và giả như con sông Hoàng Hà từ trời xanh đổ về biển cả:
Ai về đó mà thơm hồn lụa bạch
Cổ chim xanh còn quấn quít tơ vàng

Thơ Nhã Ca sẽ dựng lên một thần thoại về người con gái Huế, vời vợi hương thơm và quấn quít tơ vàng.
Nhã Ca, bút chì Nguyễn Trung 1964
Nhã Ca, bút chì
Nguyễn Trung 1964
Đêm trần gian, Nhã Ca đã nối dài vào Thiên đường và Địa ngục. Ở một phút nào đó, thần thoại đã tự hủy. Nàng tiên vươn mình lên khỏi mặt nước, để lộ nguyên hình nửa người nửa cá, nửa Thiên thần nửa Thú tính. Người đàn bà khắc khoải, bé mọn, đêm co người trăm năm. Co người để tạo một ảo giác, để che giấu một nhu cầu gần gũi, đó là lối gạt gẫm bản thân để dỗ mình vào giấc ngủ. Simone de Beauvoir tâm sự: “Người ta không sinh ra là đàn bà, người ta trở thành đàn bà.” Trở thành hay không là nhờ, là do, là tại, là bởi, là vì một người khác, một người khác phái:
Rồi náo nức lãng quên vào kỷ niệm
Một mình tôi nằm sát sự tối đen.

Nằm một mình mà vẫn đòi nằm sát. Nằm sát, dù chỉ nằm sát sự tối đen, vẫn còn hơn là nằm co. Một sự vong thân cần thiết: đàn bà có vong thân mới thành đàn bà, có tha hóa mới đạt tới yếu tính. Thúy Kiều có bán mình mới thành được Thúy Kiều và nói như Nguyễn Văn Trung “đàn bà chỉ là đàn bà khi được người khác công nhận”. Người đàn bà đẹp đến đâu, dù đẹp đến cùng cũng là những “ả tố nga” đẹp bằng mặt trăng, “đẹp như trăng” nghĩa là đẹp nhờ ánh sáng của một tinh cầu khác.
Người đàn bà, cái bản thể do ngoại, tại ngoại và hướng ngoại đó, cái être par autrui, en autrui, pour autrui đó, ý thức sự lệ thuộc của mình. Khi được si mê thì mang một thiên đường trên những ngón chân
Ta gần em mê từng ngón bàn chân
Mắt nhắm lại cho lòng nguôi gió bão 
(thơ Đinh Hùng)

và mang định mệnh nhân loại trong cái nhìn, nụ cười hay chiều cao của sống mũi như nàng Cléopâtre, hay từng nếp nhăn trên khuôn mặt như Tây Thi, định đoạt tính mệnh của một người bằng những cử chỉ vạn năng vô nghĩa
Mùa thu tàn nhẫn từ đôi mắt
Mùi hương sát nhân từ ngón tay 
(thơ Đinh Hùng)

Thực chất đàn bà là thế. Nhưng đàn bà thích sống trong huyền thoại nhiều hơn là thực chất: huyền thoại tâm hồn, trinh tiết, chung thủy v.v… để có cái ảo giác về giá trị và tự do. Kỳ thật, đó chỉ là những giá trị giả tạo do đàn ông bịa ra để bảo vệ quyền lợi ích kỷ của mình. Chung thủy là chung thủy vì một người đã qua, trinh tiết cho một người chưa đến. Người đàn bà vạn năng sẽ chỉ biết quyến rũ mà không biết si mê, chỉ có trong huyền thoại, vì người đàn bà đó là người cá! Cái can đảm của Nhã Ca là biết phá tung những huyền thoại đó:
Mùa mưa lũ với lời hứa của chàng
Vết bẩn trên mũi giầy
Bàn chân em yêu quí
Lòng tủi hờn hay mặt tối tăm
Linh hồn em một hòn đá nhỏ

Người đàn bà bị bao vây muôn trùng vì một lời hứa, người đàn bà vô nghĩa như một vết bẩn, biết rằng linh hồn mình không quí bằng một ngón chân! Và người đàn bà đó can đảm hơn nữa khi chấp nhận những nhu cầu tầm thường của thể xác, can đảm trườn mình như rắn:
Và đôi mắt uống hình nhau đã chật
Tay nâng tay thương nhớ nuối trong lời
Đêm buồn sương làm mắt ướt xa xôi
Và giá lạnh bao nhiêu lời tình tự
…Anh cũng nâng em lên bằng cái nhìn gạch ngói
bằng hơi thở mềm còn quấn quít bên nhau

Thái độ nằm co, nằm sát, nằm chật để giết chết những đêm buồn, những giá lạnh, những xa xôi, lời thì thầm đòi hỏi quấn quít, nâng em lên tạo nên cái thực chất đàn bà vừa sống sượng vừa cám dỗ, khiêm tốn một cách cao quí, tội lỗi một cách trong sạch, tầm thường đến cảm động.
Thái độ của Nhã Ca là muốn im lặng ra ngoài huyền thoại để đi tìm thực chất. Ra ngoài cái thiên hạ nói về mình, cái thiên hạ đồn đãi về mình để nghe những lời tự thú của lương tri và tiềm thức. Nhã Ca tự thương lấy thân phận, thấy rõ giới hạn chật hẹp của tự do trong thân thể mình, Nhã Ca bằng lòng sống cam phận nhỏ, chấp nhận mùi vị của tình yêu ngọt ngào như một vết thương. Nhã Ca từ một cô gái thơ ngây, bé bỏng khi về tay nhỏ che trời rét cho đến người mẹ hiền muối mặt trong ăn năn, im lặng nghe buổi trưa của cuộc đời lăn chậm:

Đã khô rồi nhựa trong cây
Mẹ nghe củi mục trôi đầy giấc con.

Nhã Ca Trích Mặc Khách Sài-Gòn của Tô Kiều Ngân
Nhã Ca
Trích Mặc Khách Sài-Gòn
của Tô Kiều Ngân
Nhã Ca từ cô gái đến người mẹ, vẫn dẫm lên lối đi tiền định của kiếp đàn bà. Lời tự tình nhẫn nhục đến thê thiết của Nhã Ca như buốt lạnh lương tâm người đọc. Qua một kỹ thuật ngôn ngữ già dặn, những cơ cấu âm thanh và hình ảnh vững chắc và uyển chuyển, người đọc còn tìm thấy thân phận chua chát, ê ẩm của người đàn bà, cái nguồn gốc tủi hờn của nhân loại. Tôi muốn kết thúc cuộc hành trình vào tâm hồn người đàn bà bằng một hình ảnh mượn của Nhã Ca, hình ảnh một loài rong
Em như loài rong
Xanh mướt niềm ăn năn

Tôi thấy trước mắt một thảm xanh hiền hòa, tự tin và tự chủ. Niềm tin bé mọn, chua xót, vẫn còn chờ đợi, vẫn còn xanh mướt. Buổi Thanh-minh của nàng Thúy, cỏ non vẫn còn gợn đến chân trời.
Em như loài rong
Trôi mãi niềm ăn năn.

Tôi thấy cánh rong của tôi bị giòng nước cuốn đi. Cánh rong thụ động, mất hết tự chủ, cố cưỡng lại với cuồng lưu. Thụ động nhưng vẫn gắng gượng tự chủ: Phận bèo bao quản nước sa, nàng Thúy thở dài.
Trôi và trôi mãi. Trôi mãi mười lăm năm mới đến Tiền-đường:
Tôi như loài rong
Chìm dưới vùng ăn năn

Tôi không còn thấy loài rong của tôi nữa. Loài rong yếu đuối mong manh, đã thất bại, đã buông xuôi, đã nhắm mắt, đã thua, đã chìm. Ngọn triều non bạc trùng trùng… Lịch sử, một cánh rong cũng là định mệnh của loài rong, đã xanh, đã trôi và đã chìm. Con đường nàng Thúy đã đi qua là con đường thiên thu của người phụ nữ muôn đời. Từ kinh nghiệm bản thân, từ linh tính, từ suy gẫm, Nhã Ca đã dùng tương quan ngôn ngữ để hé mở chiều sâu thăm thẳm của thân phận đàn bà. Trong hành lang thăm thẳm đó, chúng ta đã bắt gặp khuôn mặt của người tình, người vợ và người mẹ. Từ một thân phận phôi pha con người sẽ chua xót nghĩ đến thân phận của chính mình, của lứa đôi, và nghĩ đến hình ảnh của Thai Mẫu nhân loại, một Magna Dea thiên sứ nắm hết định mệnh loài người.
Đặng Tiến
(Đà Lạt, 10-5- 65)

trích báo VĂN số 35 ngày 1 tháng 6 năm 1965.